Ngành chè Việt Nam đang đứng trước ngưỡng cửa phải thay đổi để tồn tại và phát triển, thay đổi tư duy từ xuất khẩu nguyên liệu thô sang xuất khẩu giá trị gia tăng.
Nhiều điểm nghẽn
Việt Nam hiện đang khẳng định vị thế là cường quốc về chè khi đứng thứ 5 thế giới về sản lượng xuất khẩu. Đồng thời, thị trường trong nước đang cho thấy tiềm năng phát triển rất lớn, đặc biệt là sự lên ngôi của các dòng chè đặc sản, tiêu biểu là chè Shan tuyết vùng cao, chè oolong, chè ướp hương.
Dù sản lượng lớn, nhưng nội lực ngành chè vẫn còn nhiều điểm hạn chế như giá bán bình quân của chè Việt Nam vẫn thấp hơn đáng kể so với mức trung bình của thị trường toàn cầu; phần lớn sản lượng vẫn xuất khẩu dưới dạng nguyên liệu thô (bulk tea); hay thiếu vắng sự hiện diện của các thương hiệu mạnh tại các phân khúc thị trường cao cấp.
Thêm vào đó, tình trạng sản xuất chè chất lượng thấp vẫn diễn ra phổ biến, dẫn đến hệ quả tất yếu là giá thu mua thấp. Chất lượng nguyên liệu đầu vào hiện nay đang ở tình trạng thấp và thiếu sự kiểm soát chặt chẽ.
Dù sản lượng lớn, nhưng nội lực ngành chè vẫn còn nhiều điểm hạn chế (Ảnh minh họa)
Mặt khác, nhiều doanh nghiệp sản xuất chè phải đối mặt với "vòng xoáy" khó khăn từ khâu sản xuất đến tiêu thụ.
Cụ thể như diện tích canh tác nhỏ lẻ gây khó khăn cho việc áp dụng cơ giới hóa và quản lý chất lượng đồng bộ. Tình trạng nông dân không thực hiện đúng cam kết theo hợp đồng, tự ý "phá kèo" khi có biến động giá cả thị trường khiến chuỗi liên kết bị đứt gãy.
Các doanh nghiệp cổ phần hóa từ doanh nghiệp Nhà nước có vùng nguyên liệu đang phải chịu gánh nặng chi phí lớn do tiền thuê đất trồng chè. Điều này tạo ra sự cạnh tranh không bình đẳng với các doanh nghiệp không có vùng nguyên liệu khi vốn không phải gánh vác các chi phí về đất đai và bảo tồn vùng trồng.
Cùng với đó, thị trường xuất khẩu chè xanh chủ lực như Pakistan và Afghanistan đang rơi vào tình trạng bất ổn định, xung đột tại khu vực Trung Đông và Nam Á (đặc biệt là căng thẳng Mỹ - Iran) khiến thị trường tại đây gần như tê liệt, gây ách tắc nghiêm trọng cho hàng hóa xuất khẩu.
Nâng cao chất lượng sản phẩm
Để tháo gỡ điểm nghẽn trên, Hiệp hội Chè Việt Nam kiến nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng các cơ quan liên quan xem xét ban hành các chính sách miễn hoặc giảm tiền thuê đất trồng chè hàng năm cho các doanh nghiệp trực tiếp quản lý và sở hữu vùng trồng chè để giảm bớt gánh nặng chi phí.
Song song đó, chính quyền địa phương cần sớm có quy hoạch vùng nguyên liệu tập trung cho các nhà máy nhằm quản lý chặt chẽ theo chuỗi giá trị.
Đáng lưu ý, Hội cho rằng cần có chính sách bảo tồn các vùng chè quý, nhất là chè Shan tuyết vùng cao cũng như xây dựng và quản lý các chứng nhận chỉ dẫn địa lý để bảo vệ thương hiệu địa phương.
Cần có chính sách bảo tồn các vùng chè quý, nhất là chè Shan tuyết vùng cao
Hiệp hội chè Việt Nam kiến nghị hỗ trợ xây dựng các mô hình sản xuất khép kín từ khâu nông nghiệp đến công nghiệp và thương mại, lấy doanh nghiệp có vườn chè làm mô hình điểm; tạo điều kiện thuận lợi về thủ tục cấp phép và hỗ trợ kinh phí để doanh nghiệp thay đổi dây chuyền công nghệ mới theo hướng tiết kiệm năng lượng và nâng cao chất lượng sản phẩm.
Đồng thời, sớm xây dựng và ban hành các tiêu chuẩn, quy chuẩn cho các sản phẩm chè, đặc biệt là các sản phẩm mới.
Chủ tịch Hiệp hội Chè Việt Nam trực tiếp hướng dẫn kỹ thuật chăm sóc chè cho người lao động tại vùng nguyên liệu Phong Hải, Lào Cai
Ngoài ra, Hiệp hội chè Việt Nam kiến nghị Bộ Nông nghiệp hỗ trợ doanh nghiệp tham gia các chương trình hội chợ, xúc tiến thương mại quốc tế tại các thị trường trọng điểm như Dubai, Châu Âu, Hoa Kỳ... ; tổ chức các chương trình khảo sát, nghiên cứu để mở rộng thị trường sang khu vực Bắc Phi nhằm giảm bớt sự phụ thuộc vào các thị trường truyền thống đang bất ổn.
Theo số liệu của Cục Hải quan - Bộ Tài chính, tháng 3/2026 Việt Nam xuất khẩu 7.527 tấn chè, đạt 11,84 triệu USD, tăng 30,2% về lượng và tăng 15,3% về giá trị so với tháng 2/2026, nhưng giảm 21% về lượng và giảm 19,5% về trị giá so với tháng 3/2025. Lũy kế 3 tháng năm 2026, Việt Nam xuất khẩu 25.699 tấn chè, trị giá 43 triệu USD, giảm 4,3% về lượng và giảm 0,1% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.
Tháng 3/2026, giá bình quân xuất khẩu chè ở mức 1.573 USD/tấn, giảm 11,5% so với tháng 02/2026, nhưng tăng 1,7% so với tháng 3/2025. Lũy kế 3 tháng đầu năm 2026, giá bình quân xuất khẩu chè ở mức 1.673 USD/tấn, tăng 4,5% so với cùng kỳ năm 2025.
Đồng thời, tháng 3/2026, xuất khẩu chè sang các thị trường nhìn chung ghi nhận tăng trưởng tích cực, trong đó xuất khẩu tới một số thị trường tăng trưởng ba chữ số như thị trường Đài Loan (Trung Quốc), Trung Quốc và Ấn Độ, với mức tăng từ 180 - 214% về lượng và trị giá so với tháng 2/2026. Tuy nhiên, so với tháng 3/2025, xuất khẩu chè trong tháng 3/2026 sang nhiều thị trường giảm như Trung Quốc giảm 21,6% về lượng và giảm 28,4% về trị giá; Pakistan giảm 78,3% về lượng và giảm 80,5% về trị giá; ngược lại xuất khẩu sang thị trường Đài Loan (Trung Quốc), Hoa Kỳ, Nga, Ấn Độ ghi nhận tăng trưởng khá cao.
Quý I/2026, xuất khẩu chè của Việt Nam sang Pakistan tiếp tục giảm mạnh 72,7% về lượng và giảm 75,2% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Doanh nghiệp đã linh hoạt chuyển hướng xuất khẩu sang Philippines, Ấn Độ, Ba Lan, Các Tiểu vương quốc Ả rập thống nhất.
Xuất khẩu tới cả 4 thị trường này có mức tăng trưởng ấn tượng trong 3 tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ năm 2025, trong đó xuất khẩu sang Các Tiểu vương quốc Ả rập thống nhất tăng mạnh nhất 146,5% về lượng và 192,2% về trị giá. Hiện nay, thị trường Đài Loan (Trung Quốc), Hoa Kỳ, Ấn Độ đang là những thị trường xuất khẩu tiềm năng khi nhu cầu sử dụng chè cao. Tỷ trọng xuất khẩu chè Việt Nam sang các thị trường này ổn định hoặc tăng khá nhanh.
Nguyễn Trang