Thu hút du khách mới chỉ là bước đầu. Để tăng giá trị cho nền kinh tế, du lịch cần kết nối chặt hơn với mua sắm, văn hóa và sản phẩm địa phương, tạo thêm lý do để khách kéo dài hành trình và chi tiêu.
Một du khách dành thêm buổi chiều khám phá làng nghề, mua vài món quà địa phương hay ở lại thêm một đêm để thưởng thức chương trình nghệ thuật có thể đem đến doanh thu cho nhiều cơ sở kinh doanh. Khoản chi ấy đi vào cửa hàng, nhà hàng, dịch vụ vận chuyển, rồi tiếp tục tạo nhu cầu đối với người sản xuất và cung ứng hàng hóa.
Đó là phần giá trị cần được chú ý hơn khi đánh giá hiệu quả phát triển du lịch. Lượng khách, doanh thu khách sạn hay doanh thu lữ hành vẫn là những chỉ tiêu cần thiết, nhưng chưa thể phản ánh đầy đủ tác động của một chuyến đi tới kinh tế địa phương.
Khi khách đã đến, việc tạo điều kiện để họ trải nghiệm thêm, mua sắm thuận tiện và sử dụng nhiều dịch vụ hơn cần được coi là một nhiệm vụ quan trọng. Nếu thiếu những sản phẩm đủ hấp dẫn, điểm đến có thể đón đông khách nhưng chưa tận dụng được cơ hội phát triển bán lẻ, tiêu thụ hàng hóa và tạo sinh kế cho cộng đồng.
Mua sắm phải có sức hút để khách dành thêm thời gian
Kéo dài thời gian lưu trú và nâng mức chi tiêu là vấn đề được PGS.TS. Phạm Trung Lương, nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch, nhấn mạnh. Trong đó, mua sắm có thể góp phần giữ chân du khách, song hiệu quả không tự đến cùng với việc xây dựng thêm trung tâm thương mại.
Một khu mua sắm có nhiều cửa hàng, nhiều thương hiệu vẫn cần tạo được lý do để khách đưa nơi đó vào lịch trình. Đối với người chỉ có vài ngày khám phá một điểm đến, dành nửa ngày hoặc cả ngày mua sắm là lựa chọn phải cân nhắc với nhiều hoạt động khác.
Để tăng giá trị cho nền kinh tế, du lịch cần kết nối chặt hơn với mua sắm, văn hóa và sản phẩm địa phương, tạo thêm lý do để khách kéo dài hành trình và chi tiêu.
Bởi vậy, sức hấp dẫn cần được hình thành từ cả sản phẩm lẫn trải nghiệm. Khách có thể mua hàng, thưởng thức món ăn địa phương, xem biểu diễn nghệ thuật, tìm hiểu nghề thủ công và khám phá nét đặc trưng của vùng đất trong cùng một hành trình. Các hoạt động bổ trợ tốt cho nhau sẽ khiến việc mua sắm trở thành một phần đáng mong đợi của chuyến đi.
Với mô hình outlet, nơi tập trung bán hàng của các thương hiệu với mức giá ưu đãi, PGS.TS. Phạm Trung Lương lưu ý cần có sự kết hợp giữa thương hiệu quốc tế và bản sắc Việt Nam. Yếu tố ẩm thực, văn hóa, giải trí cùng những trải nghiệm địa phương sẽ góp phần tạo khác biệt cho mô hình này.
Chỉ cạnh tranh bằng số lượng thương hiệu hoặc giá bán sẽ khó tạo lợi thế riêng trước các điểm mua sắm trong khu vực. Trong khi đó, sản phẩm gắn với nghề truyền thống, nguyên liệu bản địa hay câu chuyện về người làm ra nó có thể đem đến cho khách một trải nghiệm riêng của điểm đến.
Vấn đề đặt ra là phải tổ chức những giá trị ấy thành sản phẩm có thể tiếp cận và mua được. Một đặc sản được giới thiệu hấp dẫn nhưng khó vận chuyển, một món đồ thủ công thiếu thông tin hoặc một điểm bán nằm ngoài hành trình đều có thể khiến nhu cầu mua sắm không trở thành giao dịch.
Do đó, kết nối du lịch với bán lẻ cần bắt đầu từ cách thiết kế hành trình, lựa chọn hàng hóa và tổ chức dịch vụ. Điểm mua sắm phải thuận tiện, sản phẩm phải phù hợp với nhu cầu của khách, còn các hoạt động văn hóa cần được bố trí để khách có thể tham gia.
Tăng chi tiêu cũng phải dựa trên giá trị mà khách nhận được. Khi có thêm trải nghiệm xứng đáng, du khách mới có cơ sở để dành thêm thời gian và ngân sách cho chuyến đi. Việc nâng giá đơn thuần không thể thay thế cho cải thiện chất lượng sản phẩm, dịch vụ.
Một vài giờ lưu lại thêm có thể tạo ra nhu cầu về ăn uống, vận chuyển và giải trí. Một đêm nghỉ thêm có thể giúp khách khám phá những hoạt động chưa kịp trải nghiệm. Cơ hội tăng doanh thu vì thế nằm ngay trong khả năng phục vụ tốt hơn dòng khách hiện có, bên cạnh nỗ lực thu hút khách mới.
Đưa sức mua của du khách về với sản xuất trong nước
Ở góc độ doanh nghiệp hàng tiêu dùng, bà Lê Thị Hồng Nhi, Phó Tổng giám đốc Unilever Việt Nam, nhìn nhận du lịch và bán lẻ có quan hệ đồng hành. Sự phát triển của một điểm đến tạo nhu cầu cho vận chuyển, logistics, thương mại và nhiều ngành sản xuất, trong đó có nông nghiệp.
Nhìn từ mối liên kết này, tiền chi cho phòng nghỉ và bữa ăn chỉ là một phần trong tổng giá trị mà khách mang lại. Suốt hành trình, họ còn sử dụng hàng tiêu dùng, dịch vụ chăm sóc cá nhân, mua quà, tham gia hoạt động vui chơi và thanh toán cho nhiều tiện ích khác.
Nếu các nhu cầu ấy được đáp ứng bằng hàng hóa sản xuất trong nước, lợi ích có thể đến với nhiều chủ thể hơn. Nhà bán lẻ có doanh thu, cơ sở sản xuất có thêm đơn hàng, đơn vị vận chuyển có thêm việc làm, còn người dân tại vùng nguyên liệu có thêm cơ hội tiêu thụ sản phẩm.
Một món quà địa phương vì thế có ý nghĩa lớn hơn giao dịch tại quầy bán. Đằng sau sản phẩm có thể là công sức của người nông dân, thợ thủ công, cơ sở chế biến và người lao động trong khâu đóng gói, phân phối. Kết nối được các khâu này sẽ giúp sức mua từ du lịch hỗ trợ trực tiếp cho hoạt động sản xuất.
Tuy nhiên, có tài nguyên và sản phẩm đặc trưng chưa đồng nghĩa với việc đã khai thác tốt thị trường khách du lịch. Hàng địa phương cần hiện diện trong những không gian khách dễ tiếp cận, từ khách sạn, nhà hàng đến cửa hàng, siêu thị và các điểm tham quan. Sự phối hợp giữa doanh nghiệp lữ hành, đơn vị lưu trú và nhà bán lẻ có thể giúp sản phẩm đến gần người mua hơn.
Du lịch còn mở ra cơ hội giới thiệu hàng Việt tới người tiêu dùng quốc tế. Sản phẩm khách sử dụng trong thời gian lưu trú hoặc mang về nước có thể giúp họ biết thêm về nguyên liệu, tay nghề và chất lượng sản xuất tại Việt Nam.
Đằng sau sản phẩm có thể là công sức của người nông dân, thợ thủ công, cơ sở chế biến và người lao động trong khâu đóng gói, phân phối.
Để có được hiệu quả ấy, câu chuyện giới thiệu phải đi cùng chất lượng thực tế. Một món hàng được kể hay nhưng sử dụng không tốt khó tạo thiện cảm lâu dài. Ngược lại, sản phẩm đáp ứng nhu cầu, có thông tin rõ ràng và thể hiện nét riêng của nơi sản xuất có thể giúp khách nhớ tới điểm đến sau khi hành trình kết thúc.
Ông Nguyễn Trùng Khánh, Cục trưởng Cục Du lịch quốc gia Việt Nam, cho biết Việt Nam đã từ vị trí thứ 5 vươn lên nhóm 3 điểm đến thu hút khách hàng đầu Đông Nam Á, đồng thời được vinh danh ở các hạng mục về di sản và điểm đến. Đây là lợi thế để tiếp tục quảng bá, thu hút sự quan tâm của du khách.
Bước tiếp theo là chuyển sự quan tâm ấy thành hiệu quả kinh tế cụ thể. Danh tiếng của điểm đến cần được thể hiện qua khả năng tạo doanh thu, việc làm và thị trường tiêu thụ cho doanh nghiệp, người dân. Muốn vậy, hoạt động du lịch phải được kết nối với thương mại, sản xuất và văn hóa ngay từ quá trình xây dựng sản phẩm.
Định hướng này cũng phù hợp với Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới. Nghị quyết xác định du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, có tính liên ngành, liên vùng, có khả năng thúc đẩy tiêu dùng, tạo việc làm và lan tỏa tới nhiều lĩnh vực.
Đến năm 2030, mục tiêu đặt ra là du lịch đóng góp trực tiếp 10–12% GDP, đón 45–50 triệu lượt khách quốc tế, phục vụ 160 triệu lượt khách nội địa và đạt tổng thu từ khách du lịch 80–90 tỷ USD. Đến năm 2045, mức đóng góp trực tiếp được kỳ vọng đạt 14–15% GDP, phấn đấu đón 70 triệu lượt khách quốc tế.
Để hướng tới những mục tiêu đó, tăng lượng khách cần đi cùng nâng hiệu quả khai thác mỗi hành trình. Thời gian lưu trú, mức chi tiêu và khả năng tiêu thụ hàng hóa trong nước cần được quan tâm trong quá trình phát triển điểm đến.
Thành công của du lịch phải được thể hiện cả ở những đơn hàng mà cơ sở sản xuất nhận được, thu nhập người dân có thêm và sức mua được tạo ra cho thị trường. Giữ khách ở lại lâu hơn chỉ thực sự có ý nghĩa khi khoảng thời gian ấy đem đến trải nghiệm tốt cho khách và lợi ích thiết thực cho địa phương.
Quang Anh