Hàng Việt hiện chiếm khoảng 85 - 90% tại các hệ thống phân phối hiện đại, cho thấy vị trí ngày càng vững chắc trên thị trường nội địa. Tuy nhiên, khi người tiêu dùng có nhiều lựa chọn hơn, lợi thế về xuất xứ không còn là yếu tố duy nhất quyết định sức mua. Bài toán tiếp theo của doanh nghiệp Việt là biến sự hiện diện trên quầy kệ thành niềm tin và khả năng giữ chân người mua.
Từ độ phủ trên quầy kệ đến sức mua thực
Sau 17 năm triển khai Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, hàng hóa sản xuất trong nước đã có sự hiện diện lớn trong hệ thống phân phối. Theo Bộ Công Thương, hàng Việt hiện chiếm khoảng 85 - 90% tại các hệ thống phân phối hiện đại.
Tại nhiều hệ thống bán lẻ lớn, tỷ lệ hàng hóa sản xuất trong nước ở mức cao, như Co.opmart, WinCommerce và BRG Retail khoảng 90%; GO! 90%; Lotte 80%; AEON 80% và MegaMarket 95%. Ở các kênh truyền thống như chợ, cửa hàng tiện lợi, hàng Việt chiếm khoảng 60%.
Cùng với sự hiện diện của hàng Việt, mạng lưới bán lẻ trong nước cũng được mở rộng. Saigon Co.op hiện có hơn 800 điểm bán, WinCommerce hơn 4.000 cửa hàng, Bách Hóa Xanh vận hành hơn 2.180 điểm bán tại các tỉnh phía Nam và Nam Trung Bộ, trong khi BRG Retail sở hữu khoảng 100 siêu thị và cửa hàng tiện lợi.
Những con số này cho thấy hàng Việt đã có độ phủ đáng kể trong hệ thống phân phối nội địa. Tuy nhiên, độ phủ mới là một phần của câu chuyện. Khi sản phẩm đã có mặt trên quầy kệ, vấn đề tiếp theo là người tiêu dùng có lựa chọn sản phẩm đó hay không và có tiếp tục mua ở những lần sau hay không.
Đây cũng là điểm khác biệt của thị trường hiện nay so với giai đoạn đầu triển khai Cuộc vận động. Nếu trước đây việc thay đổi tâm lý sính ngoại và khuyến khích người tiêu dùng quan tâm đến sản phẩm trong nước là một mục tiêu quan trọng, thì hiện nay doanh nghiệp Việt phải đối diện với yêu cầu cao hơn từ chính người mua.
Theo ông Trần Hữu Linh, Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công Thương), sau 17 năm, Cuộc vận động đã tạo ra một nền tảng đáng kể khi hàng Việt từ chỗ cần được vận động để người dân quan tâm đã trở thành lực lượng chiếm tỷ trọng lớn trong hệ thống phân phối nội địa. Tuy nhiên, chặng đường phía trước sẽ không thể chỉ được đo bằng tỷ lệ hàng Việt trên quầy kệ. Thước đo quan trọng hơn là khả năng doanh nghiệp giữ được người mua sau lần mua đầu tiên.
Khi xuất xứ không còn là lợi thế duy nhất
Khi sản phẩm đã có độ phủ lớn, khả năng giữ người tiêu dùng sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào giá trị thực mà sản phẩm mang lại. Sự thay đổi trong cách tiếp cận thị trường cũng đặt doanh nghiệp Việt trước yêu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh. Người tiêu dùng ngày càng có nhiều lựa chọn, trong khi quyết định mua hàng không chỉ dựa trên xuất xứ mà còn liên quan đến chất lượng, giá bán, mẫu mã, nguồn gốc, dịch vụ và trải nghiệm sử dụng.
Ông Trần Hữu Linh nhấn mạnh hàng Việt phải đảm bảo chất lượng ổn định, giá bán hợp lý, mẫu mã tốt, nguồn gốc minh bạch và dịch vụ hậu mãi chuyên nghiệp. Bên cạnh đó là khả năng đổi mới công nghệ, tối ưu chi phí, phát triển phân phối đa kênh và xây dựng thương hiệu.
Đây là những yếu tố quyết định khả năng giữ chân người mua sau lần tiếp cận đầu tiên. Một sản phẩm có thể tiếp cận người tiêu dùng nhờ hệ thống phân phối rộng, các chương trình xúc tiến hoặc nhận diện hàng Việt, nhưng để tạo ra sức mua lâu dài, sản phẩm vẫn phải đáp ứng được yêu cầu của thị trường.
Những yêu cầu này cũng cho thấy lợi thế về xuất xứ không thể thay thế cho năng lực cạnh tranh của sản phẩm. Người tiêu dùng có thể biết đến một sản phẩm là hàng Việt, nhưng việc tiếp tục lựa chọn phụ thuộc vào khả năng sản phẩm đáp ứng nhu cầu và mức giá phù hợp.
Đối với doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh, việc đáp ứng các yêu cầu của hệ thống phân phối hiện đại vẫn là một vấn đề cần được quan tâm. Khả năng tiếp cận vốn, công nghệ và các tiêu chuẩn để đưa sản phẩm vào hệ thống bán lẻ là những yếu tố có liên quan trực tiếp đến khả năng mở rộng thị trường.
Trong khi đó, quy mô sức mua trong nước đang tạo thêm không gian cho hàng hóa sản xuất trong nước. Theo Cục Thống kê, Bộ Tài chính, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 7/2026 ước đạt 669,1 nghìn tỷ đồng, tăng 0,9% so với tháng trước và tăng 14,5% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 7 tháng năm 2026, chỉ tiêu này đạt khoảng 4.555,8 nghìn tỷ đồng, tăng 13,1% so với cùng kỳ.
Quy mô thị trường tăng cũng đồng nghĩa với việc doanh nghiệp có thêm cơ hội tiếp cận người mua, nhưng đồng thời đặt ra yêu cầu phải thích ứng với nhiều nhóm khách hàng và phương thức mua sắm khác nhau.
Không gian cạnh tranh mở rộng
Cùng với các hệ thống bán lẻ hiện đại, hàng Việt đang được đưa đến người tiêu dùng thông qua nhiều kênh khác nhau. Các điểm bán “Tự hào hàng Việt Nam”, “Tinh hoa hàng Việt Nam”, hội nghị kết nối cung cầu, chương trình đưa hàng Việt về nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa và hoạt động đưa hàng Việt lên môi trường số đang mở rộng không gian tiếp cận thị trường.
Theo ông Trần Hữu Linh, để các chương trình kích cầu tạo hiệu ứng lan tỏa thực chất, cần phối hợp giữa các đơn vị, hiệp hội ngành hàng và địa phương; đồng thời thiết kế hoạt động theo từng phân khúc thị trường. Các tuần lễ hàng Việt tại đô thị có thể kết hợp với phiên chợ, chuyến hàng Việt về nông thôn, miền núi, biên giới.
Đối với khu vực nông thôn, điểm đáng chú ý là tính bền vững và mức độ gắn kết lâu dài với cộng đồng. Theo đó, việc đưa hàng Việt đến người tiêu dùng không chỉ dừng ở những phiên chợ ngắn ngày mà có thể kết hợp điểm bán lưu động với điểm bán cố định, đồng thời tận dụng thương mại điện tử và livestream để mở rộng thị trường.
Các hội chợ thương mại nếu gắn với du lịch, văn hóa, lễ hội cũng có thể trở thành không gian trải nghiệm về sản xuất, tiêu dùng và văn hóa vùng miền. Khi đó, sản phẩm có thêm cơ hội giới thiệu câu chuyện về thương hiệu, vùng đất và giá trị tạo nên sản phẩm.
Sau 17 năm, hàng Việt đã có độ phủ lớn trong hệ thống phân phối nội địa. Tỷ lệ 85 - 90% tại các hệ thống phân phối hiện đại cho thấy vị trí của hàng hóa sản xuất trong nước đã thay đổi đáng kể. Nhưng từ quầy kệ đến quyết định mua hàng vẫn là một khoảng cách mà doanh nghiệp phải tự lấp đầy bằng năng lực cạnh tranh.
Trong giai đoạn tiếp theo, việc duy trì thị phần hàng Việt vì thế không chỉ phụ thuộc vào số lượng sản phẩm hiện diện tại các điểm bán, mà còn nằm ở khả năng tạo dựng niềm tin và khiến người tiêu dùng quay trở lại. Theo ông Trần Hữu Linh, một sản phẩm đủ sức cạnh tranh với hàng ngoại ngay tại Việt Nam sẽ có thêm cơ hội bước ra thế giới. Vì vậy, giữ sân nhà không chỉ là duy trì thị phần trong nước, mà còn là quá trình doanh nghiệp nâng cao năng lực để cạnh tranh bằng chính chất lượng, giá trị và thương hiệu của sản phẩm.
Trung Anh