Hiện vẫn có những đề xuất đưa ra quy định không rõ mục tiêu chính sách, làm phát sinh thêm thủ tục hành chính và gia tăng gánh nặng cho doanh nghiệp so với hiện tại.
Quy định thừa thãi, đi ngược xu thế quản lý hiện đại
“Xét về tính cần thiết, quy định này là thừa thãi” nhận định không thể thẳng thắn hơn được Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) nêu rõ trong văn bản góp ý gửi Bộ Y tế về Dự thảo Nghị định quản lý mỹ phẩm. Cụ thể, Điều 63.9 quy định doanh nghiệp phải kiểm nghiệm sản phẩm tối thiểu 6 tháng/lần tại hệ thống kiểm nghiệm nhà nước, một yêu cầu không chỉ gây tốn kém chi phí, tạo thêm gánh nặng thủ tục mà còn thiếu cơ sở lý luận lẫn thực tiễn.
Theo ông Phạm Văn Hùng, chuyên gia pháp chế VCCI, nghĩa vụ kiểm nghiệm định kỳ này hoàn toàn không cần thiết bởi chất lượng mỹ phẩm đã được kiểm soát chặt chẽ ngay từ khâu sản xuất thông qua tiêu chuẩn Thực hành tốt sản xuất mỹ phẩm (CGMP-ASEAN), một chuẩn mực khu vực đã được pháp luật Việt Nam thừa nhận. Tất cả sản phẩm lưu hành trên thị trường đều phải tuân thủ CGMP-ASEAN và có đánh giá độ ổn định để đảm bảo chất lượng và độ an toàn trong suốt vòng đời sản phẩm.
Không chỉ dư thừa về mục tiêu quản lý, quy định này còn dẫn đến hệ lụy đáng lo ngại: tạo sự phân biệt đối xử khi chỉ công nhận kết quả từ hệ thống kiểm nghiệm nhà nước, vô hình trung đẩy khu vực tư nhân vào thế yếu, đi ngược nguyên tắc cạnh tranh bình đẳng trong môi trường kinh doanh.
VCCI cũng chỉ rõ, với cơ chế xử lý vi phạm hiện hành như thu hồi Phiếu công bố sản phẩm do hệ thống pháp lý đã đủ răn đe để bảo đảm tuân thủ. Việc kiểm nghiệm định kỳ như dự thảo đề xuất không chỉ trùng lặp chức năng mà còn làm phát sinh chi phí không cần thiết, trong khi hiệu quả giám sát lại rất hạn chế. Đáng nói, mẫu kiểm nghiệm do doanh nghiệp tự gửi hoàn toàn có thể không phản ánh đúng chất lượng sản phẩm thực tế trên thị trường tức là không có giá trị hậu kiểm thực chất.
Quan trọng hơn, quy định này còn lạc nhịp với tư duy quản lý hiện đại. Ông Hùng nhấn mạnh: trong khi các nước EU và ASEAN đang chuyển mạnh sang cơ chế hậu kiểm dựa trên đánh giá rủi ro, tức lấy mẫu ngẫu nhiên từ thị trường, tập trung vào các sản phẩm tiềm ẩn nguy cơ cao thì Việt Nam lại đề xuất một quy trình cứng nhắc, thiếu hiệu quả và đi ngược xu hướng cải cách.
Rõ ràng, trong bối cảnh Chính phủ đang quyết liệt cắt giảm chi phí tuân thủ và cải thiện môi trường đầu tư như tinh thần Nghị quyết 68/NQ-CP thì việc duy trì những quy định hành chính rườm rà, không mang lại giá trị thực tiễn là điều không thể chấp nhận.
Mọi chính sách mới cần phải được cân nhắc trên nguyên tắc tối giản hóa thủ tục, tôn trọng quyền tự chủ doanh nghiệp và tiệm cận với chuẩn mực quốc tế. Không thể để một quy định lỗi thời trở thành rào cản vô hình cản trở sự phát triển của ngành mỹ phẩm nói riêng và môi trường kinh doanh nói chung.
Hiện vẫn có những đề xuất đưa ra quy định không rõ mục tiêu chính sách, làm phát sinh thêm thủ tục hành chính và gia tăng gánh nặng cho doanh nghiệp so với hiện tại.
Không thể lơi lỏng, càng không thể đi ngược tinh thần Nghị quyết 68
Những quy định thiếu rõ ràng, không xác định được mục tiêu chính sách và có xu hướng gia tăng thủ tục hành chính đang khiến Dự thảo Nghị định về quản lý mỹ phẩm đối mặt với làn sóng phản biện mạnh mẽ từ cộng đồng doanh nghiệp.
Trong đó, VCCI với vai trò là đại diện tiếng nói của khối kinh tế tư nhân đã nhiều lần cảnh báo về nguy cơ đi ngược tinh thần cải cách đang được Đảng và Nhà nước thúc đẩy, đặc biệt là Nghị quyết 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân.
VCCI khẳng định, việc sửa đổi quy định lần này không chỉ đơn thuần là chỉnh sửa kỹ thuật, mà cần được xem như một cơ hội để cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực mỹ phẩm, một ngành đang tăng trưởng nhanh nhưng chịu sự giám sát chồng chéo và nặng tính tiền kiểm.
Ngay trong công văn gửi Bộ Y tế, VCCI nhấn mạnh: Nghị quyết 68-NQ/TW đặt ra mục tiêu rất cụ thể là cắt giảm tối thiểu 30% thời gian xử lý thủ tục hành chính, 30% chi phí tuân thủ và 30% điều kiện kinh doanh. Nếu mỗi văn bản pháp quy vẫn tiếp tục gia tăng gánh nặng thay vì tháo gỡ, thì chính sách cải cách chỉ nằm trên giấy.
Không chỉ với ngành mỹ phẩm, trong quá trình góp ý các dự thảo khác, VCCI cũng liên tục chỉ ra những bất cập và mâu thuẫn trong cách tiếp cận của các cơ quan soạn thảo.
Ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng thư ký VCCI, nhiều lần cảnh báo: “Việc chuyển từ mô hình quản lý hành chính sang hành chính phục vụ, từ tiền kiểm sang hậu kiểm là xu thế tất yếu, nhưng không phải cơ quan nào cũng sẵn sàng thay đổi tư duy. Đây là lúc cộng đồng doanh nghiệp cần phát huy quyền giám sát chính sách ngay từ khâu xây dựng văn bản”.
Chính vì vậy, nhiều văn bản góp ý của VCCI đi sâu vào chi tiết, yêu cầu làm rõ nội dung và loại bỏ những thủ tục không cần thiết. Trong lĩnh vực thương mại điện tử, VCCI cho rằng thủ tục thông báo website bán hàng ban hành từ năm 2013 đã lạc hậu so với thực tiễn phát triển.
Với hơn 100.000 hồ sơ thông báo chỉ trong năm 2023, trong khi không ghi nhận tác động tiêu cực nào rõ ràng đến xã hội, việc duy trì thủ tục này chỉ làm tăng chi phí tuân thủ mà không cải thiện hiệu quả quản lý.
Thực tế hiện nay, năng lực hậu kiểm của cơ quan nhà nước đã được nâng cao đáng kể, cộng với trình độ nhận thức và hành vi tiêu dùng ngày càng thông minh hơn. Do đó, việc tiếp tục kiểm soát bằng những thủ tục hành chính kiểu cũ không chỉ thiếu hiệu quả mà còn cản trở doanh nghiệp tận dụng cơ hội từ nền kinh tế số.
VCCI kiến nghị bỏ hoàn toàn thủ tục thông báo website bán hàng và chuyển sang hậu kiểm theo hướng dựa trên tiêu chí rủi ro giống như cách tiếp cận của các nước EU và ASEAN.
Trong khi đó, ở chiều ngược lại, VCCI cũng phản biện đề xuất bỏ thủ tục cấp lại giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành trong Dự thảo của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Việc bỏ thủ tục này có thể khiến doanh nghiệp lữ hành lâm vào tình huống trớ trêu: mất giấy phép mà không được cấp lại, trong khi đây là ngành kinh doanh có điều kiện, yêu cầu bắt buộc phải có giấy phép để hoạt động và giao dịch với đối tác. Nếu cơ quan kiểm tra không chấp nhận bản sao điện tử hay tra cứu hệ thống, thì doanh nghiệp sẽ bị “mắc kẹt” giữa hai tầng nấc hành chính không có lối ra.
Những ví dụ cụ thể nêu trên cho thấy: cải cách không thể chỉ là khẩu hiệu. Nếu các cơ quan chủ trì xây dựng văn bản vẫn giữ lối tư duy cũ, ban hành các quy định mơ hồ, thiếu hiệu quả hoặc thậm chí đi ngược xu thế, thì những mục tiêu cải cách hành chính sẽ không bao giờ thành hiện thực.
Trong bối cảnh nền kinh tế đang cần sự bứt tốc mạnh mẽ sau đại dịch, thì việc duy trì các thủ tục bất hợp lý chính là “lực cản vô hình” đối với sự phát triển của doanh nghiệp và cả nền kinh tế. Tinh thần của Nghị quyết 68-NQ/TW là một mệnh lệnh cải cách rõ ràng. Và điều tối thiểu, là không ai được phép làm ngược lại.
Quang Anh