Thanh tra tỉnh Bình Thuận đã có Kết luận số 02/KL-TTBT, chỉ rõ nhiều sai phạm nghiêm trọng trong việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) trái quy định tại xã Tiến Thành, TP Phan Thiết.
Nhiều sai phạm trong quá trình xác lập hồ sơ cấp GCNQSDĐ
Tại thời điểm xét cấp GCNQSDĐ, thửa đất số 19 (21.100m2) đã được điều chỉnh đưa ra ngoài quy hoạch 03 loại rừng theo Quyết định số 674/QĐ-UBND ngày 13/3/2007 của UBND tỉnh Bình Thuận và có trong quy hoạch đất sản xuất nông nghiệp tại địa phương, không có tranh chấp về đất đai.
Qua thanh tra cho thấy có sai phạm trong quá trình xác lập hồ sơ cấp GCNQSDĐ. Cụ thể, đối với ông NHSL – Công chức địa chính xã, biết rõ ông LTV không phải là người khai hoang thửa đất số 19 (21.100m2), nhưng đã xác nhận ông LTV và bà NTH là người khai hoang vào năm 1991 để đề nghị cấp GCNQSDĐ lần đầu, nên việc xác nhận của ông NHSL là chưa đúng nguồn gốc thửa đất.
Kiến nghị chuyển hồ sơ vụ cấp trái phép hơn 21.000 m² đất tại Phan Thiết sang cơ quan công an.
Bên cạnh đó, không xác minh để tham mưu Chủ tịch UBND xã Tiến Thành tổ chức cuộc họp với những người cư trú có thời gian sử dụng đất cùng với thời điểm sử dụng thửa đất số 19 (21.100m2) để lấy ý kiến về nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất; hành vi điền trước thông tin và lập trước danh sách những người ký xác nhận ý kiến vào “Phiếu lấy ý kiến khu dân cư” để đưa cho ông LTV đi lấy ý kiến là chưa khách quan, chưa đúng theo quy định của pháp luật.
Đồng ý cho ông HNM, người đại diện theo ủy quyền của ông LTV ký vào các văn bản trong hồ sơ cấp GCNQSDĐ của ông LTV và bà NTH với tư cách là người sử dụng đất là vượt quá phạm vi đại diện theo ủy quyền theo Điều 144 Bộ luật Dân sự năm 2005, bởi: Giấy ủy quyền do ông LTV lập ngày 24/4/2008, chỉ ủy quyền cho ông HNM đại diện cho ông LTV đến Văn phòng ĐKQSDĐ Phan Thiết để “giao và nhận hồ sơ đơn xin cấp giấy”.
Ngày 01/9/2008, khi cùng với Văn phòng ĐKQSDĐ Phan Thiết đo đạc địa chính thửa đất số 19 (21.100m2) để đề nghị cấp GCNQSDĐ (được trích đo từ thửa đất số 19, tờ bản đồ số 02, bản đồ 299 có diện tích 28.400m2) đã không căn cứ vào biên bản kiểm tra, đo đạc hiện trạng ngày 11/8/2008 và Công văn số 140/BQLRPHPT/KT ngày 27/8/2008 của Ban QLRPH Phan Thiết. Việc làm trên đã làm tăng thêm 4.300m2 đất được cấp GCNQSDĐ, làm sai lệch tọa độ, vị trí thửa đất đã được kiểm tra đo đạc, xác lập bản đồ. Diện tích 4.300m2 tăng thêm được xác định thuộc 02 thửa đất của bản đồ 299 như đã nêu trên, gây thiệt hại tài sản của Nhà nước.
Đối với ông NAD – Chủ tịch UBND xã Tiến Thành, xác định thửa đất số 19 (21.100m2) không có một trong các loại giấy tờ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 50 Luật Đất đai năm 2003 nên cần phải lấy ý kiến khu dân cư (thẩm tra). Tuy nhiên, kết quả việc lấy ý kiến khu dân cư về nguồn gốc và thời điểm sử dụng20 đối với thửa đất số 19 được cán bộ địa chính xã triển khai không đúng theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định.
Đã thiếu trách nhiệm trong kiểm tra, đánh giá tính đúng đắn của hồ sơ cấp GCNQSDĐ của ông LTV và bà NTH, nhưng đã xác nhận nội dung: "Nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất: Khai hoang năm 1991 sử dụng ổn định đến nay; tình trạng tranh chấp, khiếu nại về đất đai: Không; sự phù hợp với quy hoạch sử dụng đất: Nông nghiệp" là không đúng nguồn gốc, quá trình quản lý, sử dụng đối với thửa đất số 19; không công bố công khai Phiếu lấy ý kiến khu dân cư theo quy định tại điểm 1 Mục I Thông tư số 06/2007/TT-BTNMT ngày 02/7/2007 của Bộ TNMT. Hồ sơ đề nghị cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất số 19 (21.100m2) chưa đảm bảo đúng theo trình tự, thủ tục pháp luật; không đủ điều kiện được cấp GCNQSDĐ, nhưng vẫn tiến hành trình cấp có thẩm quyền cấp GCNQSDĐ cho ông V, bà H trái quy định pháp luật.
Đối với ông ĐTB – Giám đốc và ông HPV – viên chức Văn phòng ĐKQSDĐ Phan Thiết, ngày 26/6/2008, Giám đốc Văn phòng ĐKQSDĐ Phan Thiết đã ký xác nhận vào đơn xin cấp GCNQSDĐ thửa đất số 19 (21.100m2) của ông V, bà H, nội dung: “Đủ điều kiện cấp GCNQSDĐ ...”. Tuy nhiên, ngày 11/8/2008, UBND xã Tiến Thành mới triển khai Phiếu lấy ý kiến khu dân cư về nguồn gốc và thời điểm sử dụng thửa đất số 19 theo quy định của pháp luật21 (nhưng cũng không thực hiện công bố công khai); đến ngày 01/9/2008, Văn phòng ĐKQSDĐ Phan Thiết mới tiến hành lập Biên bản đo đạc địa chính thửa đất số 19 (21.100m2). Do đó, việc xác nhận của Giám đốc Văn phòng ĐKQSDĐ Phan Thiết là không có cơ sở.
Ngày 01/9/2008, Văn phòng ĐKQSDĐ Phan Thiết tiến hành lập Biên bản đo đạc địa chính thửa đất số 19 (21.100m2) - được trích đo từ thửa đất số 19, tờ bản đồ số 02, bản đồ 299 có diện tích 28.400m2 để đề nghị cấp GCNQSDĐ, nhưng không căn cứ vào biên bản kiểm tra, đo đạc theo hiện trạng ngày 11/8/2008 và Công văn số 140/BQLRPHPT/KT ngày 27/8/2008 của Ban QLRPH Phan Thiết. Việc làm này đã làm tăng thêm 4.300m2 đất được cấp GCNQSDĐ, diện tích tăng thêm này thuộc 02 thửa đất của bản đồ 299 như đã nêu trên, gây thiệt hại tài sản của Nhà nước.
Sơ đồ thửa đất số 19 (21.100m2) không có chữ ký xác nhận của những người có chung ranh giới thửa đất là chưa đúng theo hướng dẫn tại điểm 6.6 khoản 6 Mục I Thông tư số 09/2007/TT-BTNMT ngày 02/8/2007 của Bộ TNMT về hướng dẫn việc lập, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính.
Việc đồng ý cho ông HNM, người đại diện theo ủy quyền của ông LTV ký vào các văn bản trong hồ sơ cấp GCNQSDĐ của ông LTV và bà NTH với tư cách là người sử dụng đất là vượt quá phạm vi đại diện theo ủy quyền theo Điều 144 Bộ luật Dân sự năm 2005, bởi: Giấy ủy quyền ông LTV, lập ngày 24/4/2008 để ông HNM, đại diện cho ông LTV đến Văn phòng ĐKQSDĐ Phan Thiết để “giao và nhận hồ sơ đơn xin cấp giấy”.
Các hành vi trên là thực hiện không đúng theo quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 135 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai năm 2003, có dấu hiệu của tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng theo quy định tại Điều 285 Bộ luật Hình sự năm 1999 (nay là Điều 360 Bộ luật Hình sự năm 2015).
Chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra
Căn cứ kết quả thanh tra và kết luận nêu trên, Chánh Thanh tra tỉnh kiến nghị giao Chủ tịch UBND thành phố Phan Thiết chỉ đạo kiểm điểm, xử lý trách nhiệm đối với các tổ chức, cá nhân có liên quan đến những thiếu sót nêu tại Mục III của Kết luận thanh tra này theo đúng thẩm quyền và đúng quy định của pháp luật.
Phối hợp với các cơ quan có chức năng rà soát, xử lý theo quy định của pháp luật đối với việc cấp GCNQSDĐ khi không đủ điều kiện được cấp, không đúng diện tích đất và đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nhất là việc thu hồi phần thiệt hại tài sản (về đất) của Nhà nước.
Chỉ đạo Phòng Nông nghiệp và Môi trường thành phố Phan Thiết, UBND xã Tiến Thành kiểm điểm, xử lý trách nhiệm đối với tập thể, cá nhân có liên quan đến công tác lưu trữ hồ sơ địa chính quản lý đất đai (nếu hành vi vi phạm gây hậu quả đến mức xử lý hình sự thì chuyển cơ quan điều tra để xử lý theo thẩm quyền); tiến hành truy lục, sao chụp sổ mục kê được lập theo bản đồ 299 (tờ bản đồ số 02 thuộc xã Tiến Thành) để lưu trữ theo quy định
Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường chỉ đạo kiểm điểm, xử lý trách nhiệm đối với các tổ chức, cá nhân có liên quan đến công tác lưu trữ hồ sơ địa chính quản lý đất đai (nếu hành vi vi phạm gây hậu quả đến mức xử lý hình sự thì chuyển cơ quan điều tra để xử lý theo thẩm quyền); chỉ đạo đơn vị được giao quản lý, lưu trữ hồ sơ địa chính quản lý đất đai tiến hành truy lục sổ mục kê được lập theo bản đồ 299 (tờ bản đồ số 02 thuộc xã Tiến Thành) để lưu trữ theo quy định.
Ủy ban Kiểm tra thành ủy Phan Thiết xem xét xử lý về mặt Đảng đối với các tổ chức đảng và đảng viên đã để xảy ra những sai phạm nêu trên theo quy định và đúng thẩm quyền.
Giao Đoàn thanh tra tham mưu Chánh Thanh tra tỉnh văn bản kiến nghị khởi tố và chuyển hồ sơ, tài liệu có liên quan việc đề nghị xét cấp GCNQSDĐ số AM 176732 ngày 01/10/2008 đối với thửa đất số 19 (21.100m2) thuộc xã Tiến Thành đến cơ quan điều tra có thẩm quyền theo quy định tại Điều 5 Thông tư liên tịch số 03/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP-TTCP ngày 18/10/2018 của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ trưởng Bộ Công an - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng - Tổng Thanh tra Chính phủ để tiếp tục điều tra dấu hiệu về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ quy định tại Điều 281 Bộ Luật Hình sự năm 1999 (nay là Điều 356 Bộ Luật Hình sự năm 2015); dấu hiệu tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng quy định tại Điều 285 Bộ Luật Hình sự năm 1999 (nay là Điều 360 Bộ Luật Hình sự năm 2015) và các tội phạm khác.
Tâm An