11:06 28/09/2026

Lãi suất huy động tăng, doanh nghiệp đối mặt bài toán vốn cuối năm

Tín dụng tiếp tục tăng trong khi nhiều ngân hàng phải trả lãi cao hơn để thu hút tiền gửi. Sức ép từ giá vốn đang khiến khả năng giảm lãi suất cho vay trở nên hạn chế, đặc biệt khi doanh nghiệp bước vào mùa cần vốn cho sản xuất, nhập hàng và thanh toán đơn cuối năm.

Tiền gửi đắt hơn, ngân hàng khó giữ lãi vay thấp

Thị trường tiền tệ những ngày cuối tháng 9 xuất hiện một diễn biến đáng chú ý: lãi suất cho vay qua đêm giữa các ngân hàng tăng lên 7%/năm trong phiên 21/9, rồi giảm về khoảng 1% chỉ ba ngày sau đó. Một phiên tăng mạnh chưa thể đại diện cho tình trạng thanh khoản của cả hệ thống trong thời gian dài. Tuy nhiên, biên độ biến động lớn cho thấy nhu cầu vốn ngắn hạn có thể thay đổi rất nhanh và buộc các ngân hàng phải duy trì nguồn dự phòng.

Sức ép rõ hơn ở kênh huy động từ người dân. Cuối quý II/2026, tiền gửi thanh toán của cá nhân còn hơn 1,2 triệu tỷ đồng, giảm gần 130.000 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước. Với ngân hàng, đây là nguồn tiền có chi phí thấp. Khi số dư loại tiền gửi này giảm, việc dựa nhiều hơn vào tiền gửi có kỳ hạn sẽ kéo giá vốn bình quân đi lên.

Cùng thời điểm, nhu cầu cho vay vẫn lớn. Đến cuối tháng 8, tín dụng tăng 10,24% so với cuối năm 2025, trong khi huy động vốn tăng 8,77%. Khoảng cách về tốc độ tăng trưởng đặt các nhà băng trước yêu cầu vừa tìm thêm tiền gửi, vừa bảo đảm nguồn cho các khoản vay đã cam kết giải ngân. Cạnh tranh vì thế không chỉ diễn ra ở quy mô mạng lưới hay chất lượng dịch vụ, mà còn ở mức lãi trả cho khách hàng gửi tiền.

Trên thị trường đã xuất hiện những chương trình đưa lãi suất thực nhận lên trên 9%/năm. Phần lớn mức lãi cao đi kèm điều kiện cụ thể về kỳ hạn, số tiền, cách gửi hoặc ưu đãi dành cho từng nhóm khách hàng. Dù không phải mức áp dụng phổ biến cho mọi khoản tiền gửi, chúng vẫn tạo sức ép cạnh tranh: khi một ngân hàng nâng giá để giữ khách, những ngân hàng khác phải cân nhắc khả năng dòng tiền dịch chuyển.

Chi phí ấy không biến mất ngay khi thị trường liên ngân hàng hạ nhiệt. Khoản tiền gửi có kỳ hạn được huy động ở lãi suất cao tiếp tục phát sinh chi phí cho đến lúc đáo hạn. Nếu ngân hàng tăng lãi suất cho vay tương ứng, khách hàng vay chịu thêm gánh nặng. Nếu giữ nguyên lãi suất đầu ra, phần chênh lệch thu nhập lãi của ngân hàng bị thu hẹp. Cả hai hướng đều khiến việc duy trì những khoản vay giá rẻ trở nên khó khăn.

PGS, TS Nguyễn Văn Phương, Trường Đại học Kinh tế thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, nhìn nhận mặt bằng lãi suất tiền đồng đã không còn thấp khi lãi suất tiền gửi kỳ hạn 6–12 tháng tại nhiều nơi lên vùng cao. Theo ông, nếu chỉ yêu cầu giảm lãi suất cho vay mà không xử lý áp lực chi phí huy động và rủi ro tín dụng, ngân hàng có thể phải thắt chặt điều kiện giải ngân. Khi đó, doanh nghiệp thấy mức lãi suất hấp dẫn trên thông báo nhưng lại khó tiếp cận khoản vay trong thực tế.

Diễn biến này cũng cho thấy cần nhìn vào khả năng vay vốn thực chất, thay vì chỉ nhìn mức lãi suất được công bố. Một gói tín dụng ưu đãi có thể có quy mô lớn nhưng chỉ áp dụng trong thời gian ngắn, dành cho nhóm khách hàng đáp ứng điều kiện chặt chẽ hoặc chuyển sang lãi suất thả nổi sau giai đoạn đầu. Với doanh nghiệp, chi phí quan trọng nhất là tổng tiền lãi phải trả trong suốt thời gian sử dụng vốn.

Lãi suất huy động tăng doanh nghiệp đối mặt bài toán vốn cuối năm
Tín dụng tiếp tục tăng trong khi nhiều ngân hàng phải trả lãi cao hơn để thu hút tiền gửi. 

Áp lực trả nợ có thể đến sau kỳ ưu đãi

Lãi suất huy động tăng không khiến mọi khoản vay lập tức tăng theo. Hợp đồng có lãi suất cố định vẫn được thực hiện theo thời hạn đã thỏa thuận. Tác động thường đến trước với khoản vay mới, khoản vay được gia hạn và hợp đồng thả nổi tới kỳ điều chỉnh lãi suất. Sự khác biệt ấy khiến sức ép phân bổ không đều giữa các doanh nghiệp, ngay cả khi họ hoạt động trong cùng một ngành.

Với doanh nghiệp thương mại, thời điểm cuối năm thường gắn với nhu cầu nhập hàng và tăng dự trữ. Tiền vay được sử dụng trước, còn doanh thu chỉ về sau khi hàng bán được và đối tác thanh toán. Nếu vòng quay hàng tồn kho chậm hơn dự kiến, doanh nghiệp phải trả lãi trong thời gian dài hơn. Một mức tăng nhỏ của lãi suất có thể trở thành khoản chi đáng kể khi tính trên dư nợ lớn và nhiều tháng liên tiếp.

Doanh nghiệp sản xuất đối diện bài toán tương tự nhưng chu kỳ vốn có thể dài hơn. Tiền nguyên liệu, nhân công và vận hành nhà máy phải chi đều đặn, trong khi thời hạn thanh toán theo hợp đồng có thể kéo dài sau lúc giao hàng. Khi chi phí vay tăng, doanh nghiệp cần hoặc cải thiện tốc độ thu hồi công nợ, hoặc chấp nhận biên lợi nhuận giảm. Việc tăng giá bán để bù chi phí không phải lúc nào cũng khả thi nếu sức mua yếu hoặc hợp đồng đã chốt giá từ trước.

Áp lực còn lớn hơn với dự án đầu tư dài hạn. Một khoản vay có lãi suất ưu đãi trong sáu tháng hoặc một năm đầu có thể giúp phương án tài chính ban đầu trông thuận lợi. Nhưng dự án chưa tạo đủ dòng tiền khi ưu đãi kết thúc sẽ phải gánh mức lãi suất mới trên dư nợ còn lớn. Doanh nghiệp sử dụng vốn ngắn hạn cho nhu cầu đầu tư dài hạn càng dễ bị động khi đến kỳ tái vay.

Chuyên gia kinh tế Cấn Văn Lực nhận định nhu cầu tín dụng tăng cùng sự cạnh tranh của các kênh đầu tư khác khiến ngân hàng phải duy trì mức lãi tiền gửi đủ hấp dẫn để giữ nguồn vốn. Điều đó thu hẹp dư địa giảm lãi suất cho vay, nhất là khi ngân hàng còn phải tính tới chi phí hoạt động và rủi ro của từng khách hàng. Mức lãi suất vì thế có thể tiếp tục phân hóa: doanh nghiệp có dòng tiền tốt, hồ sơ rõ ràng sẽ có khả năng thương lượng thuận lợi hơn doanh nghiệp đang thiếu vốn lưu động hoặc có khoản phải thu chậm.

Ở góc nhìn điều hành, những biến động ngắn hạn trên thị trường liên ngân hàng có thể được giảm bớt thông qua việc cung ứng thanh khoản phù hợp. Nhưng để mặt bằng lãi suất cho vay hạ bền vững, nguồn vốn huy động của ngân hàng cần ổn định hơn, đồng thời các khoản cho vay phải được kiểm soát rủi ro. Bơm vốn hỗ trợ thanh khoản một vài phiên và giảm được giá vốn cho các kỳ hạn dài là hai việc khác nhau.

Triển vọng lãi suất cuối năm còn chịu tác động từ nhu cầu vốn trong nước, lạm phát và diễn biến tỷ giá. Vì vậy, các dự báo về thời điểm lãi suất hạ nhiệt chỉ nên được xem là kịch bản tham khảo. Doanh nghiệp không thể chờ một dự báo thành hiện thực rồi mới tính lại phương án tài chính cho các khoản nợ sắp đến hạn.

Việc cần làm trước mắt là rà soát từng hợp đồng vay: kỳ ưu đãi kết thúc khi nào, lãi suất sau ưu đãi được tính theo công thức nào, ngân hàng điều chỉnh sau bao lâu và có chi phí nào phát sinh nếu trả nợ trước hạn. Từ đó, doanh nghiệp có thể lập ít nhất hai phương án dòng tiền, gồm mức lãi hiện tại và mức cao hơn. Khoản đầu tư mới cũng cần được cân nhắc theo thời điểm có thể tạo doanh thu, thay vì chỉ dựa vào khả năng được cấp tín dụng.

Khi giá vốn tăng, vay được tiền chưa hẳn đã giải quyết xong bài toán. Điều quyết định là doanh nghiệp có thu hồi tiền bán hàng đủ nhanh để trả lãi, trả gốc và tiếp tục duy trì hoạt động hay không. Với các khoản vay lớn, một lịch trả nợ được tính sát thực tế có thể quan trọng hơn vài tháng lãi suất ưu đãi ban đầu.

Thanh Cao