Bước sang quý 3/2024, cơ hội tìm kiếm các nhóm ngành tăng trưởng lợi nhuận cao dần khan hiếm hơn, yếu tố nền kết quả kinh doanh thấp cùng kỳ sẽ không còn là câu chuyện chính. Các công ty chứng khoán vẫn duy trì đánh giá một số nhóm ngành có thể tăng trưởng tích cực.
Kỳ vọng lợi nhuận thị trường tiếp tục duy trì đà tăng trưởng
Trong báo cáo vừa công bố của Agriseco, lũy kế 6 tháng đầu năm 2024, lợi nhuận toàn thị trường tăng 16% so với cùng kỳ năm 2023 với động lực chính đến từ Khối phi tài chính tăng 33% yoy, trong khi mức tăng lợi nhuận Khối tài chính thấp hơn (+7% yoy).
Nguyên nhân Khối phi tài chính có mức tăng lợi nhuận cao đến từ nhóm Bán lẻ, Thép, CNTT và Xây dựng phục hồi đáng kể từ mức nền thấp so với cùng kỳ năm trước. Một số doanh nghiệp có LNST 6T2024 tăng trưởng cao như MWG (+843%), MSN (+75%), HPG (+213%), FPT (+20%), CTD (+208%),... Ngược lại, nhóm Bất động sản vẫn còn gặp khó khăn trong 6 tháng đầu năm nay với LNST đạt 24.000 tỷ đồng (-26% yoy) với các doanh nghiệp như VHM (-51%), VIC (-17%), KBC (-87%), NVL (-461%),...
Trong khi nhóm Ngân hàng ghi nhận tăng trưởng với LNST 6T2024 đạt 118.348 tỷ đồng (+16% yoy) chủ yếu đến từ thu nhập lãi thuần và thu nhập ngoài lãi phục hồi đáng kể, cụ thể là BID (+12%), TCB (+39%), HDB (+49%), VPB (+68%), LPB (+142%),...
Bước sang quý 3/2024, Agriseco vẫn duy trì đánh giá một số nhóm ngành có thể tăng trưởng tích cực hoạt động thương mại xuất nhập khẩu có nhiều khởi sắc, mặt bằng lãi suất duy trì mức thấp giúp tiết giảm chi phí lãi vay và quy mô nguồn vốn, tài sản gia tăng.
Cụ thể, trong 8 tháng đầu năm 2024, xuất khẩu tiếp tục là điểm sáng trong bức tranh chung của nền kinh tế với tổng trị giá xuất khẩu đạt 265,09 tỷ USD, tăng 15,8% yoy, trị giá nhập khẩu đạt 246,02 tỷ USD, tăng 17,7% yoy. Trong đó Mỹ vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch ước đạt 77,9 tỷ USD (tăng 25% trong 8T2024). Các đối tác thương mại lớn của Việt Nam như Mỹ, EU, Trung Quốc đều đang cho thấy tín hiệu khả quan và lượng đơn đặt hàng mới gia tăng.
Mặt bằng lãi suất giai đoạn hiện tại đang ở mức thấp trong nhiều năm qua. Với mặt bằng lãi suất thấp như vậy, chi phí lãi vay của các doanh nghiệp cũng được tiết giảm, cụ thể theo ước tính của Agriseco Research, chi phí lãi vay các doanh nghiệp niêm yết trong 6 tháng đầu năm 2024 đã giảm khoảng 16% so với cùng kỳ. Agriseco kỳ vọng chi phí tài chính của các doanh nghiệp tiếp tục xu hướng giảm, từ đó hỗ trợ lợi nhuận của doanh nghiệp trong các tháng cuối năm.
Bên cạnh đó, một trong những động lực quan trọng để tăng trưởng kết quả kinh doanh là tăng trưởng về nguồn lực tổng tài sản và vốn chủ sở hữu. Tại thời điểm cuối quý 2/2024, tổng tài sản và vốn chủ sở hữu của các doanh nghiệp niêm yết tăng 14,9% so với cùng kỳ. Qua việc tăng quy mô, các doanh nghiệp có thể gia tăng năng lực hoạt động, công suất để đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh theo đà phục hồi của nền kinh tế vào cuối năm nay.
Cũng trong báo cáo vừa công bố, Chứng khoán MB (MBS) dự báo lợi nhuận toàn thị trường trong quý 3/2024 có thể tiếp tục duy trì đà tăng trưởng và đạt mức tăng 19,5% so với cùng kỳ nhờ sự hỗ trợ của môi trường lãi suất thấp, tỷ giá giảm mạnh, sản xuất và tiêu dùng trên đà phục hồi.
Lợi nhuận ngành Ngân hàng dự báo tăng trưởng 16,5% so với cùng kỳ (quý II tăng 19,5%). Các ngành được dự báo có thể tăng trưởng lợi nhuận nổi bật gồm bán lẻ (tăng 381% so với cùng kỳ), năng lượng (tăng 321%), bất động sản khu công nghiệp (tăng 169%) từ nền thấp cùng kỳ.
Ở chiều ngược lại, một số ngành ước tính lợi nhuận suy giảm như bất động sản (giảm 3% so với cùng kỳ) do còn thiếu vắng các dự án mở bán hay dầu khí (giảm 11%) do kết quả kém tích cực ở nhóm doanh nghiệp hạ nguồn.
Ngành ngân hàng dự báo tăng trưởng lợi nhuận ổn định
MBS kỳ vọng tăng trưởng tín dụng quý 3/2024 được dự báo sẽ tiếp tục cải thiện so với quý 2 nhờ sự phục hồi của hoạt động sản xuất kinh doanh. Thu nhập ngoài lãi vẫn ảm đạm và chưa thể phục hồi khi chỉ dựa chủ yếu vào mảng thu phí và xử lý nợ. Hoạt động kinh doanh ngoại hối và chứng khoán dự báo sẽ không có mức tăng trưởng cao khi tình hình thị trường vẫn chưa có nhiều tín hiệu khởi sắc.
NIM quý 3/2024 sẽ đi ngang/giảm nhẹ so với nửa đầu năm ở hầu hết các ngân hàng do lãi suất tiền gửi sẽ tăng dần trong nửa cuối năm 2024 khi các ngân hàng tăng cường hoạt động huy động vốn trong khi lãi suất cho vay dự kiến sẽ duy trì ở mức thấp và sẽ không tăng đáng kể nhằm hỗ trợ nền kinh tế.
Nợ xấu của các ngân hàng niêm yết trong quý 3/2024 sẽ không tăng so với quý 2/2024 vì dư nợ từ nhóm KHDN vẫn tiếp tục dẫn dắt tín dụng trong quý 3/2024, đồng thời, các NH sẽ giảm tốc trích lập trong nửa cuối năm 2024 do tín dụng từ nhóm KHCN không tăng nhiều. Theo đó, bộ đệm dự phòng được dự báo sẽ giảm do trích lập giảm tốc cùng với việc xoá nợ xấu vẫn sẽ được duy trì như trong 6T24.
Theo đó, lợi nhuận ròng các ngân hàng niêm yết trong quý3/2024 có thể tăng 16,5% và là trụ đỡ quan trọng cho tăng trưởng lợi nhuận toàn thị trường, một số ngân hàng có mức tăng trưởng nổi bật như HDB (+44%), TPB (+35%) nhờ tăng trưởng tín dụng cao; EIB (+70%), CTG (+40%) nhờ mức nền thấp cùng kỳ.
Ngành bất động sản phân hóa theo khu vực
KQKD Q3/24 sẽ có sự phân hóa giữa các doanh nghiệp theo khu vực. Tính đến hết 6T24, nguồn cung căn hộ tại TP.HCM tiếp tục hạn chế với chỉ khoảng 1,676 sản phẩm mới (-59% svck) và mặt bằng giá chỉ tăng khoảng 6% svck, nguồn cung mới chủ yếu đến từ các dự án cao cấp với pháp lý rõ ràng, của các nhà phát triển nước ngoài tiềm lực mạnh hoặc các giai đoạn tiếp theo của các dự án đã mở bán trong quá khứ. Trái ngược lại với khu vực phía Nam, Hà Nội chứng kiến nguồn cung mới tăng vọt 176% svck, đạt 10,841 sản phẩm mới – mức cao nhất trong vòng 5 năm. Mặt bằng giá tại khu vực này cũng tăng mạnh và đang bắt kịp với khu vực phía Nam khi giá đã tăng 22% svck. Với việc 3 bộ luật BĐS quan trọng có hiệu lực, chúng tôi cho rằng sẽ cần thêm thời gian để các địa phương xây dựng bảng giá đất chính thức, giúp đẩy nhanh tiến độ dự án hơn. Các doanh nghiệp bất động sản với thị trường trọng điểm phía Nam như NVL, DXG sẽ tiếp tục ghi nhận KQKD quý 3 khiêm tốn khi thiếu vắng các dự án mở bán mới và tình hình thị trường trầm lắng. Một số doanh nghiệp với các dự án hoàn thiện pháp lý như KDH, NLG sẽ có thể có lợi thế trong thời gian sắp tới dựa vào thời điểm mở bán. Các doanh nghiệp BĐS với các dự án tập trung tại khu vực phía Bắc như VHM có thể sẽ tiếp tục hưởng lợi từ mức thanh khoản cao và pháp lý hoàn thiện.
Ngành BĐS khu công nghiệp & cao su
Với nhóm bất động sản khu công nghiệp, MBS dự báo kết quả kinh doanh (KQKD) quý 3 vẫn duy trì đà tăng trưởng tốt nhờ dòng vốn FDI tích cực từ đầu năm. Tuy nhiên mức tăng trưởng lợi nhuận ròng quý 3 sẽ khác nhau giữa các công ty khu công nghiệp do thời điểm bàn giao đất trong năm.
KBC có thể đạt tăng trưởng lợi nhuận ròng đột biến 2.999% từ mức nền thấp cùng kỳ năm ngoái. BCM có thể ghi nhận lợi nhuận ròng cao gấp 3 lần cùng kỳ năm ngoái nhờ chuyển nhượng đất dân cư cho IJC. Còn với IDC và SZC, quý 3 thường ghi nhận KQKD thấp hơn so với các quý khác trong năm, MBS dự phóng lợi nhuận ròng sẽ chỉ tăng trưởng nhẹ nhờ các hợp đồng MOU đã ký. Nhìn chung 9 tháng, các doanh nghiệp khu công nghiệp sẽ ghi nhận KQKD cao hơn so với cùng kỳ.
Các doanh nghiệp có mảng cao su sẽ được hỗ trợ từ giá cao su thế giới tăng mạnh từ đầu năm. Nguyên nhân do nguồn cung thiếu hụt bởi điều kiện thời tiết không thuận lợi cho thu hoạch và nhu cầu vẫn tăng mặc dù thị trường tiêu thụ tại Trung Quốc có dấu hiệu chậm lại.
Điều này giúp lợi nhuận của các công ty cao su tích cực cho đến cuối năm. Dự phóng lợi nhuận ròng của GVR có thể tăng 182% so với cùng kỳ nhờ giá bán cao su cao và lợi nhuận ròng của PHR cao hơn 35% nhờ giá bán tăng và tiền thu từ thanh lý cây cao su ghi nhận trong quý này.
Ngành vật liệu cơ bản vượt qua khó khăn và vẫn ghi nhận tăng trưởng
Ngành vật liệu cơ bản gặp nhiều khó khăn khi giá hàng hóa nói chung suy giảm, tuy nhiên các doanh nghiệp vẫn có thể ghi nhận lợi nhuận tăng trưởng dương, điểm sáng từ nhóm các doanh nghiệp thép.
Trong quý 3 ngành thép gặp nhiều bất lợi trong bối cảnh áp lực giảm giá từ thép Trung Quốc tăng mạnh do nhu cầu yếu tại nước này và các thị trường xuất chính như EU, Mỹ có động thái điều tra chống bán phá giá. Tuy nhiên, nhu cầu nội địa trở thành điểm sáng trong bối cảnh tiêu thụ nội địa tăng trưởng 20% so với cùng kỳ nhờ đóng góp của thép xây dựng với mức tăng 25%.
Trong bối cảnh đó, MBS cho rằng biên lợi nhuận gộp toàn ngành có thể cải thiện nhờ giá nguyên vật liệu như than, quặng giảm lần lượt 17% và 12% trong khi giá thép xây dựng giảm 9% so với cùng kỳ. HPG có thể ghi nhận lợi nhuận ròng khoảng 2.257 tỷ (tăng 13% so với quý 3/2023) chủ yếu nhờ biên lợi nhuận gộp cải thiện 1 điểm % lên khoảng 11% và chi phí tài chính giảm 7%. Đối với các doanh nghiệp tôn mạ, lợi nhuận ròng của NKG dự kiến tăng 270% so với cùng kỳ nhờ biên gộp cải thiện lên mức lên mức 7% (từ khoảng 2,5% của năm 2023) trong khi HSG giảm 78% do nền cao trong quý 3/2023.
Ngành dầu khí triển vọng thượng nguồn tích cực nhờ Lô B – Ô Môn
Quý 3 cũng dự kiến tiếp tục là một quý ghi nhận KQKD kết quả kinh doanh phân hóa giữa các doanh nghiệp trong ngành dầu khí.
Giá dầu ghi nhận mức giảm tương đối mạnh (giảm 15,2% kể từ đầu quý) do các yếu tố về nhu cầu thấp lấn át tác động của nguồn cung hạn chế. Việc này có thể tác động tiêu cực đến một số doanh nghiệp ở phía hạ nguồn như PLX và BSR, khi PLX có thể phải tăng trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho, còn BSR bị ảnh hưởng do crack spread tiếp tục ở mức thấp.
Ở phía thượng nguồn, PVS đã được trao thầu toàn bộ cho hai gói thầu thuộc dự án Lô B, Ô Môn để triển khai mạnh hơn đồng thời bàn giao các cấu kiện cho dự án nhà máy điện Jurong của Singapore, do đó có thể ghi nhận KQKD tích cực hơn. Phía PVD giá cho thuê giàn không có nhiều thay đổi, giàn khoan đất liền không hoạt động trong quý III nhưng đã kết thúc bảo dưỡng do đó có thể giảm các áp lực chi phí lên doanh nghiệp.
Ở khu vực trung nguồn, PVT được kỳ vọng ghi nhận KQKD tích cực khi cước vận tải dầu ổn định, doanh nghiệp nhận thêm ba tàu mới và ghi nhận thanh lý tàu PVT Synergy khoảng 150 tỷ đồng. Trong khi đó, KQKD của GAS có thể kém tích cực hơn so với quý II khi sản lượng khí khô có thể giảm so với quý trước do tiêu thụ từ các nhà máy điện khí giảm, tuy nhiên có thể ghi nhận thêm đóng góp từ kinh doanh LNG.
Ngành điện lợi nhuận được hỗ trợ từ tỷ giá giảm và thủy điện tích cực
MBS dự báo lợi nhuận nhóm điện được hỗ trợ từ tỷ giá giảm và thủy điện tích cực. Tính đến ngày 25/9, tỷ giá USD/VND đã giảm 3,5% so với cuối quý 2 trong khi cơ cấu vốn vay của các doanh nghiệp ngành điện được tài trợ một phần bằng đồng USD, do đó các doanh nghiệp điện sẽ có thể ghi nhận lãi tỷ giá trong quý này, đặc biệt là PC1, PGV.
Về hoạt động kinh doanh cốt lõi, nhu cầu điện tính đến hết tháng 8/2024 tăng 12% so với cùng kỳ, cao hơn kế hoạch của Bộ công thương từ đầu năm là 9%, hỗ trợ huy động các nhà máy điện. Trong bối cảnh mưa nhiều trên toàn quốc và thủy văn thuận lợi, nhóm thủy điện dự kiến có triển vọng tích cực nhất trong quý 3/2024. Tính trong tháng 7 và tháng 8, sản lượng thủy điện đã tăng khoảng 39% so với cùng kỳ, theo đó các doanh nghiệp thủy điện đều sẽ hưởng lợi trong giai đoạn này, tuy nhiên các doanh nghiệp sở hữu thủy điện nhỏ như PC1, HDG sẽ có lợi thế hơn do ít bị ảnh hưởng bởi giá huy động giảm.
Đối với nhóm nhiệt điện, sản lượng huy động đi ngang so với cùng kỳ và giảm mạnh so với quý 2/2024 do Việt Nam đã đi qua đợt cao điểm nắng nóng, dự kiến xu hướng huy động thấp có thể kéo dài hết quý 3 và chỉ cải thiện từ quý 4 khi thủy điện hết mùa mưa tại khu vực miền Nam do đó, nhóm nhiệt điện có thể sẽ duy trì mức nền LN khá thấp trong giai đoạn này.
Về mặt chính sách, trong thời gian tới dự kiến Nghị định về khuyến khích phát triển điện mặt trời mái nhà sẽ được ban hành, trong khi đó, luật điện lực sửa đổi và các chính sách quan trọng như chính sách giá NLTT vẫn đang bỏ ngỏ về thời điểm ban hành.
Ngành bán lẻ phục hồi tích cực nhờ thu nhập người dân có sự cải thiện
MBS nhận thấy quý 3 sẽ là giai đoạn mở rộng của các nhà bán lẻ sau một thời gian dài đi ngang nhằm bảo vệ thị phần, trong bối cảnh sức tiêu dùng chung vẫn còn yếu. Các doanh nghiệp đã dần mở mới cửa hàng thêm để tiếp cận đến các tệp khách hàng tiềm năng với mục tiêu mở rộng tệp khách hàng mới, tăng độ phủ sóng trên toàn quốc.
Tuy nhiên ngành hàng bán lẻ điện tử tiêu dùng vẫn đang giảm dần số cửa hàng vật lí khi nhu cầu chung có sự sụt giảm rất mạnh trong năm 2023, do đó các nhà bán lẻ vẫn đang tái cấu trúc kinh doanh nhằm tối ưu chi phí, cải thiện lợi nhuận.
Trung Anh