10:59 26/02/2023

Luật Đất đai (sửa đổi): Cần quy định cụ thể về trường hợp và đối tượng bị thu hồi đất

Các chuyên gia đề nghị dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) cần quy định cụ thể về các trường hợp thu hồi đất, thu hồi đất vì lợi ích quốc gia công cộng, đối tượng bị thu hồi đất và thống nhất sử dụng một cụm từ chỉ đối tượng bị thu hồi đất để quá trình triển khai thực hiện luật được thống nhất.

Ngăn ngừa điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất không đúng quy định

Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) đang được Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức lấy ý kiến nhân dân nhằm đề ra nhiều chính sách mới, sửa đổi và bổ sung nhiều nội dung quan trọng. Sau khi kết thúc việc lấy ý kiến vào ngày 15/3, Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ tổng hợp kết quả, hoàn thành báo cáo trước khi trình Chính phủ. Việc lấy ý kiến nhân dân về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là bảo đảm quyền tham gia vào các công việc Nhà nước của công dân, góp phần bảo đảm tính công khai, dân chủ, minh bạch đối với hoạt động quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.

Theo GS,TS Phạm Hữu Nghị, Nghiên cứu viên cao cấp Viện Nhà nước và Pháp luật đánh giá các quy định về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã cụ thể hơn quy định của Luật Đất đai hiện hành. Tuy nhiên vẫn còn nhiều vấn đề được đặt ra: Ai là người được lấy ý kiến? Người dân nói chung hay người đại diện cho dân? Ai là người đại diện cho dân? Vai trò của các chuyên gia như thế nào trong quá trình lấy ý kiến nhân dân? Ngoài hai hình thức lấy ý kiến như trong dự thảo thì còn hình thức nào nữa không? Nếu tổ chức hội nghị thì cách thức chuẩn bị, nêu vấn đề, tổ chức thảo luận, góp ý kiến, tập hợp ý kiến như thế nào để hội nghị có chất lượng, không mang tính thủ tục thuần túy? Có lấy ý kiến bằng cách bỏ phiếu không? Bao nhiêu phần trăm người được hỏi tán thành thì cần đưa vào nội dung quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất? Trong trường hợp cơ quan tổ chức lấy ý kiến không giải trình thì có phải chịu trách nhiệm gì không? Các vấn đề này nên quy định cụ thể, chi tiết hơn trong luật.

Bên cạnh đó, tại khoản 1, Điều 63 quy định về Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc gia của dự thảo cần có thêm quy định Quy hoạch sử dụng đất quốc gia được phê duyệt trong năm đầu tiên của kỳ quy hoạch. Nếu có quy định này, sẽ tạo ra cơ sở khắc phục được tình trạng các quy hoạch sử dụng đất quốc gia bị phê duyệt chậm như trong thời gian vừa qua.

Luật Đất đai sửa đổi Cần quy định cụ thể về trường hợp và đối tượng bị thu hồi đất
Quy hoạch hai bên tuyến đường Lê Văn Lương liên tục được điều chỉnh, khiên các cao ốc mọc lên dày đặc.

GS,TS Phạm Hữu Nghị cho biết, vừa qua, có tình trạng điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất không đúng quy định làm phương hại đến lợi ích công cộng, lợi ích quốc gia. Bởi vậy, các quy định về rà soát, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) cần cụ thể, chặt chẽ hơn để ngăn ngừa, hạn chế tình trạng trên.

Cần quy định về các nguyên tắc và việc lấy ý kiến nhân dân về việc điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Có thể áp dụng các nguyên tắc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất như là các nguyên tắc của việc điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Lấy ý kiến nhân dân về việc điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là cơ chế ngăn ngừa nhóm lợi ích tác động vào việc điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất vì lợi ích riêng, trục lợi cá nhân.

Ngoài ra, Ban soạn thảo dự án Luật Đất đai (sửa đổi) cần phối hợp với các cơ quan có liên quan rà soát các quy định về quy hoạch có trong tất cả các văn bản pháp luật. Từ đó phát hiện ra các mâu thuẫn, chồng chéo để có phương án giải quyết một cách phù hợp.

Cần quy định cụ thể về trường hợp và đối tượng bị thu hồi đất

Cũng đón góp ý kiến về dự thảo, ông Nguyễn Quốc Hải, Phó trưởng Ban Pháp chế HĐND tỉnh Thanh Hóa phân tích, tại Điều 85 dự thảo Luật quy định về trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. Theo đó, trong điều luật sử dụng 2 cụm từ “người có đất thu hồi” và “người sử dụng đất (SDĐ)” để chỉ đối tượng bị thu hồi đất. Với việc quy định trên sẽ có các cách hiểu khác nhau và việc triển khai luật không đảm bảo tính thống nhất.

Hiện nay, có cách hiểu “người có đất thu hồi” là người được nhà nước giao đất, cho thuê đất hoặc người được đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) là đối tượng bị thu hồi đất. Vì vậy, khi thực hiện thu hồi đất chỉ căn cứ vào GCNQSDĐ hoặc quyết định giao đất, cho thuê đất để ban hành quyết định thu hồi đất.

Thực tiễn đã có trường hợp UBND cấp có thẩm quyền ban hành quyết định thu hồi đất của người đã chết (vì họ là người đứng tên trên GCNQSDĐ). Trong trường hợp này việc triển khai thực hiện quyết định thu hồi đất gặp nhiều vướng mắc vì không có đối tượng thực tế để thi hành quyết định thu hồi đất. Mặt khác, cũng có quan niệm cho rằng “người SDĐ” là người đang trực tiếp SDĐ mới là đối tượng bị thu hồi đất, vì vậy cấp có thẩm quyền ban hành quyết định thu hồi đất đồi với người đang trực tiếp SDĐ nhưng trên thực tế thửa đất bị thu hồi đứng tên chủ thể khác. Điều này cũng làm ảnh hưởng đến quyền lợi của những người liên quan đến thửa đất bị thu hồi.

Từ đó, ông Nguyễn Quốc Hải đề nghị dự thảo Luật cần quy định cụ thể về đối tượng bị thu hồi đất và thống nhất sử dụng một cụm từ chỉ đối tượng bị thu hồi đất để quá trình triển khai thực hiện luật được thống nhất.

Luật Đất đai sửa đổi Cần quy định cụ thể về trường hợp và đối tượng bị thu hồi đất
Cần quy định cụ thể về các trường hợp thu hồi đất, thu hồi đất vì lợi ích quốc gia công cộng, đối tượng bị thu hồi đất để quá trình triển khai thực hiện luật được thống nhất. (Ảnh minh họa)

Theo ông Nguyễn Quốc Hải, cũng tại điều luật này, dự thảo Luật quy định “chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất trong khu vực có đất thu hồi cũng là đối tượng bị thu hồi đất là đúng nhưng chưa đủ, vì trên thực tế có nhiều trường hợp chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất trong khu vực có đất thu hồi đã chết hoặc đã thực hiện các thủ tục chuyển quyền sở hữu nhưng chưa hoàn thành và người đang sử dụng tài sản gắn liền với đất trong khu vực có đất thu hồi là người sử dụng hợp pháp chứ chưa phải là chủ sở hữu. Do vậy, dự thảo luật cần phải quy định bổ sung thêm đối tượng là “người sử dụng hợp pháp” để phù hợp với thực tiễn.

Tại khoản 6, Điều 85 dự thảo luật có nội dung quy định: Việc thu hồi đất ở chỉ thực hiện sau khi hoàn thành bố trí tái định cư, trừ trường hợp tái định cư tại chỗ hoặc người có đất bị thu hồi đồng ý nhận tiền bồi thường để tự lo chỗ ở hoặc người có đất bị thu hồi đồng ý. Về nội dung này, đề nghị cần xem xét, sửa đổi cho phù hợp với quy định về nguyên tắc bồi thường tại khoản 3 Điều 89 dự thảo Luật vì việc bồi thường có thể được bồi thường bằng đất khác mục đích sử dụng hoặc bồi thường bằng nhà ở.

“Như vậy, nếu người bị thu hồi đất đã nhận nhà ở hoặc đã nhận đất khác mục đích sử dụng khi thu hồi đất ở, thì vẫn thực hiện việc thu hồi đất mà không ảnh hưởng đến quyền lợi của người bị thu hồi đất.” Phó trưởng Ban Pháp chế HĐND tỉnh Thanh Hóa phân tích.

Tại Điều 89 dự thảo Luật quy định về nguyên tắc bồi thường, trong đó việc bồi thường về đất quy định có thể bồi thường bằng đất có cùng mục đích sử dụng hoặc bằng đất khác mục đích sử dụng. Như vậy, trường hợp được bồi thường bằng đất và trường hợp được bố trí tái định cư là 02 nội dung độc lập. Tuy nhiên, tại khoản 1 Điều 107 dự thảo Luật lại quy định đối với trường hợp Nhà nước thu hồi đất đủ điều kiện được bồi thường về đất thì được bố trí tái định cư là chưa đúng với tinh thần và chưa phù hợp với nguyên tắc bồi thường được quy định tại Điều 89 dự thảo Luật.

Do vậy, đề nghị trong dự thảo Luật cần quy định cụ thể các trường hợp được bồi thường bằng đất và nguyên tắc bồi thường bằng đất để tránh trường hợp bất bình đẳng vì có thể có trường hợp bị thu hồi hàng nghìn m2 đất ở nhưng chỉ được bố trí 01 lô tái định cư trong khi địa phương vẫn có quỹ đất; đồng thời, quy định cụ thể các trường hợp không được bồi thường bằng đất, việc bố trí tái định cư và nguyên tắc xét bố trí tái định cư.

Ngoài ra, theo Phó trưởng Ban Pháp chế HĐND tỉnh Thanh Hóa, tại khoản 3, Điều 104 dự thảo Luật quy định về việc lập quỹ hỗ trợ để thực hiện việc hỗ trợ cho các đối tượng quy định tại điểm d, khoản 2 Điều 104 là không cần thiết, bởi lẽ nguồn của quỹ cơ bản sẽ từ nguồn ngân sách nhà nước (trích từ tiền sử dụng đất) và phải thiết lập một bộ máy để quản lý, vận hành đối với quỹ là không phù hợp với xu hướng tinh gọn bộ máy và tinh giảm biên chế theo tinh thần, chủ trương chung của Đảng và Nhà nước.

Vì vậy, ông Nguyễn Quốc Hải đề nghị nghiên cứu bỏ nội dung này trong dự thảo Luật và sử dụng ngân sách nhà nước để chi trả như các chính sách hỗ trợ khác là phù hợp.

Hồng Quang(T/H)