Áp lực lên mặt bằng lãi suất huy động và cho vay còn khá cao trong giai đoạn còn lại của năm, khi chênh lệch huy động vốn – tín dụng ở mức âm hơn 200 nghìn tỷ đồng.
Báo cáo thị trường tiền tệ, trái phiếu do SSI Research mới công bố cho biết, trong tuần trước, một số ngân hàng tham gia cơ cấu các ngân hàng yếu kém đã được NHNN cấp bổ sung thêm hạn mức tín dụng với tổng giá trị ước tính là hơn 80 nghìn tỷ đồng.
Như vậy, khi tính đến dư nợ tín dụng mới tăng thêm này, tăng trưởng tín dụng trong năm 2022 ước tính đạt 14% so với cuối 2021 - tương đương với hạn mức NHNN đưa ra đầu năm.
Tính đến hiện tại, tín dụng đã tăng 10,96% so với cuối năm ngoài và sẽ có khoảng 317 nghìn tỷ đồng sẽ được phân bổ trong giai đoạn còn lại của năm. Áp lực lên mặt bằng lãi suất huy động và cho vay còn khá cao trong giai đoạn còn lại của năm, khi chênh lệch huy động vốn – tín dụng ở mức âm hơn 200 nghìn tỷ đồng.
Trước đó, ngay sau khi các ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân đồng loạt tăng lãi suất huy động, các ngân hàng thuộc nhóm "big 4” gồm Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank), Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (VietinBank) và Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) cũng tăng theo.
Cụ thể, theo biểu niêm yết Vietcombank cập nhật ngày 29/9, lãi suất tiết kiệm tăng mạnh từ 0,8-1,3%/năm ở các kỳ hạn. Theo đó, lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 1-3 tháng của Vietcombank tăng 1% lên 4,1 - 4,4%/năm, lãi suất kỳ hạn 12 tháng tăng 0,8% lên 6,4%/năm. Lãi suất kỳ hạn 24 tháng cũng tăng 1% lên 6,4%/năm. VietinBank cũng tăng lãi suất kỳ hạn 1 tháng-dưới 3 tháng thêm 1% lên 4,1%/năm, lãi suất từ 3 tháng đến dưới 6 tháng tăng lên 4,4%/năm.
Lãi suất kỳ hạn 12 tháng tăng 0,8% lên 6,4%/năm. Agribank điều chỉnh lãi suất huy động kỳ hạn 1-2 tháng lên 4,1%/năm; lãi suất kỳ hạn từ 3 tháng đến dưới 6 tháng là 4,4%/năm; lãi suất kỳ hạn 6 tháng đến dưới 12 tháng là 4,8%/năm; lãi suất kỳ hạn 12-18 tháng là 6,4%/năm.
Trong khi đó, BIDV điều chỉnh lãi suất huy động các kỳ hạn 1 và 2 tháng tăng kịch trần 1% lên 4,1%/năm; lãi suất huy động kỳ hạn từ 3-5 tháng tăng lên mức 4,4%/năm. Riêng mức lãi suất các kỳ hạn 6 tháng và 9 tháng tại BIDV đã có sự chênh lệch, thay vì bằng nhau như trước đó, cụ thể kỳ hạn 6 tháng tăng 0,7% lên 4,7%/năm, kỳ hạn 9 tháng tăng 0,8% lên 4,8%/năm. Lãi suất tiền gửi tiết kiệm các kỳ hạn từ 12-36 tháng cũng được điều chỉnh tăng 0,8% lên mức 6,4%/năm.
Thị trường trái phiếu chính phủ cũng ghi nhận lãi suất bật tăng mạnh trên thị trường sơ cấp.
Cụ thể, tuần qua, khối lượng phát hành từ NHCSXH quay trở lại trạng thái kém tích cực khi không ghi nhận trúng thầu và khối lượng đăng ký cũng ở mức thấp. KBNN quay trở lại phát hành thành công 5,1 nghìn tỷ đồng TPCP kỳ hạn 10 và 15 năm, trên tổng số 6,5 nghìn tỷ đồng gọi thầu. Lợi suất tăng mạnh, lên tới 30 điểm cơ bản, lần lượt là 3,3% và 3,6% cho kỳ hạn 10 và 15 năm.
Tính đến hiện tại, KBNN phát hành 119,8 nghìn tỷ đồng, hoàn thành 30% kế hoạch phát hành năm, thấp hơn nhiều so với cùng kỳ. Như vậy, chúng tôi cho rằng KBNN sẽ phải điều chỉnh giảm kế hoạch phát hành năm nhằm phản ánh đúng hơn thực tế trong 3 quý qua và nhiều khả năng, tổng kế hoạch phát hành trong năm 2022 sẽ giảm xuống chỉ còn 250 nghìn tỷ đồng (từ mức 400 nghìn tỷ ban đầu).
Lãi suất sơ cấp bật tăng mạnh
Trên thị trường thứ cấp, lợi suất trái phiếu tiếp tục tăng ở tất cả các kỳ hạn tuần thứ 4 liên tiếp, phản ánh kỳ vọng tăng lãi suất của thị trường. Kết tuần đóng cửa như sau: 1 năm (4,7, +21 bps), 3 năm (4,7%; +25 bps); 5 năm (4,7%, +26 bps); 10 năm (4,89%, +13 bps); 15Y (4,96%, +12 bps); 20Y (5,03%, +9 bps) và 30Y (5,11%, +10 bps). Đường cong lợi suất phẳng và giá trị giao dịch trung bình hàng ngày tăng nhẹ lên 5,4 nghìn tỷ.
Trên thị trường ngoại hối, trong tuần qua, tâm lý thị trường tiếp tục thận trọng khi số liệu tích cực hơn kỳ vọng của thị trường lao động Mỹ sẽ khiến cho Fed kiên định với chính sách thắt chặt trong thời gian tới.
Cụ thể, tỷ lệ thất nghiệp của Mỹ trong tháng 9 giảm xuống chỉ còn 3,5%, trái với dự báo đi ngang ở 3,7% như tháng 8. Nhờ vậy, thông qua công cụ CME Fed Watch, xác xuất Fed sẽ tăng lãi suất 75 điểm cơ bản, trên tăng lên 80% - từ mức 60% trong 1 tuần trước đó. Đồng USD chốt tuần tăng giá 0,6% so với tuần trước, và các đồng tiền chủ chốt khác hầu hết đều yếu đi so với USD như EUR -0,59%, GBP -0,75%, JPY -0,35%,.v.v.
Tại thị trường trong nước, tỷ giá niêm yết tại Vietcombank tiếp tục duy trì ở mức trên VND 24,000, và tỷ giá liên ngân hàng cũng tiến sát mức tỷ giá bán tại Sở GDNHNN sau động thái của NHNN tăng giá bán tại Sở GDNHNN.
Một số yếu tố hỗ trợ tỷ giá trong ngắn hạn là cung-cầu ngoại tệ trên thị trường có phần nào cải thiện khi cán cân thương mại tháng 9 tiếp tục ghi nhận thặng dư khoảng 1,4 tỷ USD. Bên cạnh đó, chênh lệch dương nới rộng giữa lãi suất VND – USD cũng phần giúp hạn chế xu hướng dòng tiền rút ra khỏi Việt Nam. So với cuối năm 2021, tỷ giá niêm yết tại Vietcombank đã tăng 4,8%, tỷ giá liên ngân hàng tăng 4,6%.
Trung Anh