Rào càn kỹ thuật thương mại gia tăng, đòi hỏi từ sản xuất "Xanh” ngày càng nhiều… Đó vừa là thách thức, song đó cũng chính là cơ hội, giúp chúng ta kỳ vọng nhiều hơn vào sự thay đổi của chính mình để đáp ứng yêu cầu thị trường, thúc đẩy xuất khẩu bền vững.
Các nhà sản xuất muốn vượt qua rào kỹ thuật thương mại không có cách nào khác ngoài cải thiện chất lượng sản phẩm, nâng cao năng lực quản trị, đáp ứng hài hòa các tiêu chuẩn về thị trường. Ảnh: Báo Tin tức
Tại Hội nghị giao ban xúc tiến thương mại với hệ thống Thương vụ Việt Nam ở nước ngoài, Bộ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Hồng Diên cho hay, ngay những ngày đầu năm mới Quý Mão 2023, nhiều mặt hàng nông sản của Việt Nam đã nhận được yêu cầu kiểm tra nghiêm ngặt về chất lượng.
Sức ép ngày càng tăng
Bộ trưởng Diên cho biết: “Trước đây, mỗi quý người ta kiểm tra một lần, giờ tháng 1 lần, thậm chí kiểm tra từng lô hàng. Đây là những yêu cầu rất khó khăn, đòi hỏi người sản xuất, tổ chức lưu thông điều chỉnh chiến lược sản xuất kinh doanh”.
Thương vụ Việt Nam tại Bỉ và EU vừa dẫn danh sách kiểm soát an toàn thực phẩm 6 tháng đầu năm 2023 vừa được Uỷ ban châu Âu (EU) công bố, cơ quan này tiếp tục đưa ra biện pháp kiểm soát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật (ethylene oxide - EO) với rau thơm, trái cây, mỳ ăn liền... của Việt Nam xuất sang thị trường EU.
Theo đó, thanh long và mỳ ăn liền vẫn nằm trong danh mục phải có chứng nhận thuốc bảo vệ thực vật của cơ quan có thẩm quyền phía Việt Nam và chịu tần suất kiểm tra 20% tại cửa khẩu. Đây là các quy định đã được phía EU áp dụng với các sản phẩm này từ tháng 1/2022. Riêng ớt vẫn nằm trong danh mục chịu kiểm soát chất lượng tại cửa khẩu, với tần suất kiểm tra là 50%. Tỷ lệ kiểm tra dư chất bảo vệ thực vật trên mỗi lô đậu bắp nhập khẩu từ Việt Nam là 50% và phải có chứng thư kiểm soát thuốc trừ sâu của Việt Nam.
Theo ông Trần Ngọc Quân, Tham tán Thương mại Việt Nam tại Bỉ và EU, ngay trong tháng 1/2023, phía EU đã đưa ra các quy định, yêu cầu đối tác xuất khẩu vào EU tập trung nhiều hơn về các tiêu chuẩn liên quan tới môi trường; lao động; chính sách chống phá rừng liên quan tới mặt hàng cà phê, đồ gỗ; chính sách cân bằng năng lượng, chuyển đổi carbon như mặt hàng phân bón, hóa chất, sắt thép; yêu cầu giảm phát thải từ các ngành hàng thời trang, điện tử...
Cùng với đó, phía EU đẩy mạnh kiểm soát an toàn vệ sinh thực phẩm. Chính những động thái trên đã tạo ra một số khó khăn cho các nước tiếp cận thị trường EU, trong đó có Việt Nam. Điều này đòi hỏi nhà quản lý Việt Nam phải đáp ứng các yêu cầu chặt chẽ hơn từ phía thị trường này.
Ngoài các tiêu chuẩn về chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, EU cũng đang thảo luận về một "Thỏa thuận Xanh" nhằm giảm sự rò rỉ các-bon do việc nhập khẩu nông sản từ các quốc gia có hệ thống sản xuất sử dụng nhiều các-bon. Do đó, việc tiếp cận thị trường EU của các quốc gia xuất khẩu nông sản chắc chắn sẽ phải đáp ứng các tiêu chuẩn bền vững cao hơn.
Thế nhưng, thực tế hiện nay các lĩnh vực sản xuất nông nghiệp của Việt Nam vẫn chưa tiếp cận hiệu quả với các yêu cầu tăng trưởng xanh. Theo Báo cáo "Hướng tới sản xuất nông nghiệp xanh ở Việt Nam" của Ngân hàng Thế giới (WB), thì nông nghiệp là một nhân tố lớn góp phần vào việc phát thải khí nhà kính ở Việt Nam. Đây là lĩnh vực phát thải cao thứ hai, chiếm khoảng 19% tổng lượng phát thải quốc gia (vào năm 2020). Khoảng 48% lượng khí thải của ngành nông nghiệp và hơn 75% lượng khí mê-tan phát ra từ sản xuất lúa gạo.
Chính vì vậy, nếu muốn đẩy mạnh xuất khẩu nông sản sang EU, ngành nông nghiệp Việt Nam cần quan tâm hơn nữa về các chỉ số tăng trưởng xanh trên cơ sở xây dựng chính sách, lộ trình thực hiện giảm phát thải khí nhà kính, khí mê-tan trong nông nghiệp phù hợp với cam kết quốc tế.
Nói như ông Bartosz Cieleszynski - Phó trưởng Ban Thương mại, Phái đoàn Liên minh châu Âu tại Việt Nam: “Công nghệ xanh không vượt ngoài tầm tay của Việt Nam, mỗi doanh nghiệp đều có thể tham gia vào công nghệ xanh và thương mại xanh. Với nền kinh tế định hướng xuất khẩu như Việt Nam, công nghệ xanh và thương mại bền vững nên bắt đầu từ các ngành chủ lực xuất khẩu như nông - lâm - ngư nghiệp”.
Năm 2022, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản cả nước đạt con số kỷ lục 53,22 tỷ USD, tăng 9,3% so với năm 2021. Tuy nhiên, về thị trường xuất khẩu, tính đến hết tháng 11/2022, châu Á vẫn chiếm đến 44,7% thị phần, trong khi đó thị trường chất lượng cao và quan trọng như châu Âu chỉ chiếm 11,3% thị phần...
Muốn chinh phục cần tuân theo tín hiệu thị trường
Không chỉ thị trường EU, các thị trường thành viên của CPTPP như Mexico, Canada đều rất có tiềm năng để hàng Việt Nam chinh phục. Chẳng hạn như: nông sản chế biến, cà phê, hàng tiêu dùng, hàng điện tử, linh kiện và phụ tùng ô tô, quần áo, giày dép…
Tuy nhiên, Trần Thu Quỳnh, Tham tán thương mại, Trưởng Thương vụ Việt Nam tại Canada, cho biết người tiêu dùng ở thị trường này đang ngày càng khắt khe hơn với các sản phẩm nhập khẩu, trong đó đặc biệt quan tâm tới việc giảm khí thải carbon - đây cũng là hình thức bảo hộ mới cho hàng nội địa. Cùng với đó, hàng Việt còn gặp bất lợi về lạm phát, biến động tỷ giá, vận chuyển tắc nghẽn…
Theo bà Quỳnh, hàng Việt Nam có lợi thế thuế quan nhờ Hiệp định CPTPP. Tuy nhiên, Canada cũng có rất nhiều FTA với các thị trường khác, do vậy nếu không vượt qua được các rào cản trên, hàng Việt dễ bị thay thế bằng hàng hóa nước khác.
Trước những thách thức trên, Bộ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Hồng Diên lưu ý doanh nghiệp cần tổ chức nghiên cứu thị trường, nắm bắt chủ trương, chính sách mới của nước sở tại, nhất là rào cản mới mà các khu vực, thị trường đang đặt ra, nhất là rào cản của thị trường EU.
Ông nhấn mạnh: “Chúng ta sản xuất ra được nhiều sản phẩm nhưng sản phẩm đó có được thị trường chấp nhận không lại là chuyện khác. Cần thay đổi phương thức sản xuất theo tín hiệu thị trường, giá cả, chất lượng được người tiêu dùng chấp nhận chứ không sản xuất theo tập quán, thói quen, để rồi phải hô hào giải cứu”.
Đồng thời, lãnh đạo Bộ Công Thương đã chỉ đạo các Thương vụ Việt Nam ở nước ngoài tiếp tục thu thập thông tin, khuyến nghị với cơ quan chức năng, doanh nghiệp để điều chỉnh chiến lược kinh doanh, làm sao vùng trồng, vùng nuôi phải đáp ứng được tiêu chuẩn thị trường cụ thể.
Việc tuân thủ các quy định thị trường ở mỗi nước, nhất là với các thị trường lớn như EU là hết hết sức cần thiết cho thúc đây xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam. Thực tế, lợi ích mang lại cho doanh nghiệp, người dân và quốc gia là lớn, song để vượt qua các rào cản kỹ thuật như trên không hề dễ dàng, nhất là vấn đề chi phí sản xuất.
Trước những thách thức đó, có lẽ chúng ta cũng nên đặt kỳ vọng nhiều hơn, nỗ lực nhiều hơn để tạo ra các thay đổi trong cách thức sản xuất, vận chuyển, phân phối và tiếp thị... Bản thân mỗi doanh nghiệp bên cạnh cần chủ động tiếp cận thông tin từ phía thị trường cũng cần phải tự đổi mới chính mình để thích ứng, nếu không chúng tiếp tục bị kiểm soát trước các rào cản mà thị trường đặt ra.
Thái Đạt