Theo Nghị quyết về Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021-2030, Việt Nam phấn đấu năm 2030 là "nước đang phát triển, thu nhập trung bình cao" và năm 2050 thành "nước phát triển, thu nhập cao", với GDP thu nhập bình quân đầu người đạt khoảng 32.000 USD. Vậy chúng ta cần phải làm gì để hiện thực mục tiêu này?.
Mục tiêu thành nước phát triển
Mới đây, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Nghị quyết về Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021-2030. Trong đó, mục tiêu là đến năm 2030, phấn đấu tốc độ tăng trưởng GDP cả nước bình quân đạt khoảng 7%/năm giai đoạn 2021-2030. Đến năm 2030, GDP bình quân đầu người theo giá hiện hành đạt khoảng 7.500 USD.
Còn giai đoạn 2031-2050, phấn đấu tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân khoảng 6,5-7,5%/năm. Đến năm 2050, GDP bình quân đầu người theo giá hiện hành đạt khoảng 27.000-32.000 USD - ngưỡng thu nhập cao.
Đến năm 2050, Việt Nam sẽ là nước phát triển, thu nhập cao. Nền kinh tế vận hành theo phương thức của kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn; khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực tăng trưởng chủ yếu.
Nghị quyết nêu rõ, đến năm 2050 tỷ lệ đô thị hóa đạt 70-75%, chỉ số phát triển con người (HDI) đạt từ 0,8 trở lên, đời sống của người dân hạnh phúc, quốc phòng, an ninh được bảo đảm vững chắc.
Mục tiêu phấn đấu đến năm 2030 Việt Nam là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao.
Tầm nhìn đến năm 2050, Việt Nam là nước phát triển, thu nhập cao, có thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đầy đủ, đồng bộ, hiện đại, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; quản trị xã hội trên nền tảng xã hội số hoàn chỉnh.
Cùng với đó, Việt Nam thuộc nhóm các nước công nghiệp phát triển hàng đầu khu vực châu Á; là một trung tâm tài chính khu vực và quốc tế; phát triển kinh tế nông nghiệp sinh thái giá trị cao thuộc nhóm hàng đầu thế giới.
Những con số này là mục tiêu rất tham vọng, đòi hỏi nỗ lực vượt bậc, nhất là khi so sánh GDP bình quân đầu người của Việt Nam năm 2030 là 7.500 USD với các nước trong khu vực. Thực tế, đây không phải là mức thu nhập cao nếu so với các nước xung quanh Việt Nam. Nếu mục tiêu như Quốc hội đưa ra đạt được thì năm 2030, GDP bình quân đầu người của Việt Nam mới chỉ tương đương Malaysia vào năm 2007.
Yếu tố con người - chất lượng nguồn nhân lực là điều quyết định
Chia sẻ liên quan đến nội dung này, bà Phạm Thị Hồng Yến - Uỷ viên thường trực Uỷ ban Kinh tế của Quốc hội cho biết, mục tiêu của Quy hoạch tổng thể Quốc gia là kim chỉ nam, là động lực để theo đuổi mục tiêu tăng trưởng và có những phương án huy động nguồn lực.
Quy hoạch đã định hướng sự hình thành phát triển các hành lang kinh tế theo trục Bắc - Nam và Đông - Tây dựa trên các đường quốc lộ, cao tốc, cảng biển, cảng hàng không, cửa khẩu quốc tế. Ưu tiên phát triển hành lang kinh tế gắn với vùng động lực quốc gia, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2021-2030. Có như vậy mới hiện thực hoá được mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước có thu nhập cao; củng cố thế và lực của đất nước trong quá trình hội nhập quốc tế.
Trong khi đó, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga (đoàn Hải Dương) cũng cho rằng, mấu chốt chìa khóa để hiện thực hóa mục tiêu trên chính là yếu tố con người, chất lượng nguồn nhân lực.
Theo bà Nga, trong 10 năm qua, chúng ta đang tận dụng lợi thế nguồn nhân lực dồi dào và giá rẻ nhưng hiện tại, đó không còn là lợi thế nữa. Nguồn nhân lực phải có chất lượng, có trình độ, tay nghề, có ý thức kỷ luật cao. Nếu như không quan tâm đến chất lượng nguồn nhân lực, chúng ta sẽ mãi loay hoay và không thể hoàn thành mục tiêu đưa Việt Nam đến năm 2050 thành nước phát triển, thu nhập bình quân đầu người khoảng 27.000-32.000 USD.
Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga chia sẻ, để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, cần sắp xếp lại mạng lưới các trường đại học, đặc biệt là các trường đại học sư phạm: Trên thực tế, hệ thống các trường quá nhiều và thậm chí tràn lan. Thậm chí, mỗi tỉnh có vài trường đại học, đào tạo các ngành giống nhau, tạo ra cuộc cạnh tranh khốc liệt trong tuyển sinh. Các trường cấp tỉnh phải hạ chỉ tiêu tuyển sinh, dẫn tới chất lượng đầu vào chưa cao.
Mấu chốt chìa khóa để hiện thực hóa mục tiêu trên chính là yếu tố con người, chất lượng nguồn nhân lực.
Việt Nam phải có ngành công nghiệp nội địa tạo giá trị gia tăng cao
Góp ý về nhũng điều chũng ta cần làm để hiện thực hóa mục tiêu của Nghị Quyết, TS.Lê Xuân Nghĩa, nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia cho rằng, Việt Nam đang thiếu những ngành công nghiệp tạo ra giá trị gia tăng cao như vậy. Ngành công nghiệp nội địa của Việt Nam mới chỉ có lắp ráp ô tô, giá trị gia tăng chưa cao. Tất nhiên đây cũng là một điểm sáng trong ngành công nghiệp Việt Nam.
TS. Lê Xuân Nghĩa nhấn mạnh, Việt Nam không thể cứ mãi đi làm dịch vụ hương dẫn du lịch, gia công dệt may, giày da… như hiện nay. Nhất định một quốc gia đông dân như Việt Nam phải có ngành công nghiệp nội địa tạo giá trị gia tăng cao thì GDP bình quân mới cao được! Như vậy, Việt Nam cần tập trung phát triển mạnh công nghiệp lõi ngay từ bây giờ.
Nhìn vào các nước láng giềng như Thái Lan, Malaysia hay Indonesia, những quốc gia này từng một thời là con hổ mới của châu Á. Nhưng các quốc gia này chưa thể tiến xa hơn vì thiếu đi công nghiệp cốt lõi. Điền hình như Thái Lan, vì không phát triển được ngành công nghiệp lõi nên tăng trưởng kinh tế nằm trong khoảng 3-4% trong nhiều năm trở lại đây. Theo đó, Việt Nam cần thay đổi ngay để không rơi vào tình trạng giống Thái Lan như hiện tại, TS. Lê Xuân Nghĩa chia sẻ.
Nói tới con hổ châu Á Hàn Quốc, đây là một quốc gia phát triển mạnh nhờ vào định hướng tập trung phát triển công nghiệp ngay từ ban đầu. Hay nói cách khác, Hàn Quốc tập trung phát triển công nghiệp lõi mới có được phát triển như ngày hôm nay.
Cụ thể, thời gian đầu phát triển đất nước, Hàn Quốc không chú trọng vào huy động vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài mà để dành toàn bộ thị phần trong nước cho doanh nghiệp nội địa. Điều này đã giúp cho doanh nghiệp nội địa phát triển mà không bị cạnh tranh bởi các doanh nghiệp nước ngoài.
Cùng với đó, tất cả nguồn vốn quốc gia đều dành cho công nghiệp, doanh nghiệp nội địa. Chính phủ Hàn Quốc đã đứng ra bảo lãnh vay vốn nước ngoài để có chi phí vay vốn thấp, từ đó có vốn phát triển cho công nghiệp, doanh nghiệp nội địa. Qua đó thấy được, Hàn Quốc là một quốc gia có chính sách công nghiệp hoá vô cùng quyết liệt.
Tại Hàn Quốc, chính phủ luôn ưu tiên các nguồn vốn dành cho công nghiệp. Trên thực tế, đầu tư cho công nghiệp rất dài hạn và lợi nhuận rất thấp, không thể bằng đầu tư cho bất động sản vì lợi nhuận đầu tư bất động sản rất cao. Nhìn nhận được vấn đề này, chính phủ Hàn Quốc đã thực hiện chính sách công nghiệp hoá rất quyết liệt và triểt để nhằm dẫn dòng vốn đầu tư vào công nghiệp lõi để có được nền công nghiệp phát triển như hiện nay.
Với Việt nam, nền công nghiệp của Việt Nam hiện được đóng góp rất lớn từ các doanh nghiệp nước ngoài. Cùng với đó, doanh nghiệp nội địa chưa thực sự có tác động lớn tới các ngành công nghiệp cốt lõi. Thực tế, FDI tạo ra tới 70% xuất khẩu của Việt Nam và 70% này phụ thuộc chủ yếu vào ngành sản xuất. Chính vì thế, FDI gần như là chiếm tới 70 % sản xuất hàng công nghiệp của Việt Nam.
Theo đó, trong điều kiện doanh nghiệp nội địa chưa mở rộng sản xuất để xuất khẩu được thì FDI thì là một trong những yếu tố giúp cho tăng trưởng kinh tế duy trì ở mức độ nhất định và phát triển công nghiệp phụ trợ. Tóm lại muốn vượt qua bẫy thu nhập trung bình, Việt Nam cần phải có được một nền công nghiệp chế tạo độc lập tự chủ và có tính lưỡng dụng cao, nếu không tất cả chỉ là giấc mơ.
Khi các doanh nghiệp nội địa tạo ra nhiều giá trị gia tăng hơn trong ngành công nghiệp lõi thì không chỉ tăng trưởng mà cả GDP bình quân của Việt Nam sẽ cao trong tương lai.
Đức Minh