10:06 10/05/2023

Ngân hàng nào sẽ hạn chế được rủi ro NIM thu hẹp?

VnDirect cho rằng xu hướng tăng cho vay KHDN và huy động từ KHCN sẽ duy trì tới khi lãi suất hạ nhiệt rõ rệt và nền kinh tế có sự phục hồi. NIM trung bình của 25 ngân hàng niêm yết giảm 18 điểm cơ bản trong quý 1/2023 do các ngân hàng đã phải hi sinh một phần lợi nhuận để hỗ trợ khách hàng.

Cho vay doanh nghiệp chiếm ưu thế

Theo số liệu từ VnDirect, cuối Q1/23, tăng trưởng tín dụng toàn ngành chỉ tăng 2,1% so với đầu năm (thấp hơn đáng kể so với mức 5-6% các quý cùng kỳ trước). Các ngân hàng thương mại (NHTM) có tỷ trọng cho vay doanh nghiệp (KHDN) lớn đã đạt tăng trưởng tín dụng cao hơn trung bình ngành (TCB, HDB, VPB, TPB, MSB… ). 

Ngược lại, tín dụng tại các NH cho vay cá nhân (KHCN) ghi nhận giảm/chậm lại so với đầu năm (ACB, VIB, STB…). Nền kinh tế suy yếu đã ảnh hưởng lên thu nhập cũng như khả năng trả nợ của KHCN, theo đó làm giảm nhu cầu vay và các NH sẽ thận trọng hơn khi giải ngân cho nhóm này.

Khó khăn dần hiện hữu với ngành ngân hàng

Ngược lại với KHDN, cụ thể là BĐS với vấn đề thanh khoản trước đó đang rất cần thêm dòng tiền để đảo nợ/tài trợ HĐKD (tín dụng kinh doanh BĐS tăng 6,5% so với đầu năm).

Thống đốc Nguyễn Thị Hồng cho biết thực tế những năm qua, tăng trưởng tín dụng vào lĩnh vực bất động sản thường cao hơn mức tăng trưởng chung của nền kinh tế - ngay cả trong quý I/2023 khi tín dụng tăng trưởng chậm.

Chẳng hạn, trong 3 tháng đầu năm, ở lĩnh vực ưu tiên, vốn ngân hàng cho vay nông nghiệp, nông thôn giảm 0,09%. Trong khi đó, tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro gồm bất động sản tăng 2,19%, trong đó kinh doanh bất động sản tăng 6,45%, phục vụ mục đích tự sử dụng tăng 0,25%. Riêng tín dụng để đầu tư, kinh doanh chứng khoán tăng mạnh nhất với 13,39%.

Khó khăn dần hiện hữu với ngành ngân hàng

Trong văn bản mới đây, NHNN cho biết: trong năm nay sẽ tiếp tục kiểm soát mức độ tập trung tín dụng vào một số khách hàng/nhóm khách hàng lớn, khách hàng có liên quan đến cổ đông lớn, người có liên quan của cổ đông của tổ chức tín dụng, cho vay chéo..., yêu cầu các ngân hàng thương mại cân đối tỷ trọng dư nợ cấp tín dụng đối với lĩnh vực bất động sản một cách hợp lý, đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng.

Việc cấp tín dụng, sử dụng vốn vào một số doanh nghiệp trong hệ sinh thái hoặc doanh nghiệp “nội bộ” có nguy cơ rủi ro lớn cần được kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ.

Xu hướng tăng gửi tiết kiệm của nhóm KHCN

Bên cạnh việc cắt giảm chi tiêu, KHCN sẽ có xu hướng tăng “gửi tiết kiệm” trong môi trường lãi suất cao và kinh tế suy yếu (tiền gửi cá nhân tiếp tục đà tăng trưởng cho đến tháng 2/2023). 

Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), tổng tiền gửi của khách hàng tại hệ thống tổ chức tín dụng cuối tháng 2/2023 đạt gần 11,8 triệu tỷ đồng, giảm hơn 23.800 tỷ đồng so với cuối năm 2022, tương đương giảm 0,2%.

Trong đó, tổng số dư tiền gửi của dân cư tại hệ thống tổ chức tín dụng đến cuối tháng 2 đã đạt hơn 6,18 triệu tỷ đồng, tăng hơn 314.000 tỷ đồng (tương đương tăng 5,36%), đánh dấu 15 tháng liên tiếp tăng trưởng dương.

Tiền gửi từ dân cư tăng mạnh trong bối cảnh những tháng đầu năm nay trong bối cảnh lãi suất huy động của các ngân hàng tăng liên tục. Theo đó, giai đoạn cuối năm 2022 và 3 tháng đầu năm nay, lãi suất huy động của các ngân hàng liên tục duy trì ở mức cao lên tới 9-10%/năm đã hút mạnh người gửi tiền.

Lãi suất ở mức cao khiến dòng tiền nhàn rỗi của người dân liên tục chảy vào kênh tiết kiệm của ngân hàng. Nhiều khách hàng có xu hướng bỏ tiền nhàn rỗi vào các tài khoản gửi tiết kiệm có kỳ hạn tại ngân hàng để thu lãi nhiều nhất. Điều này cũng là nguyên nhân khiến dòng tiền vào các kênh đầu tư khác sụt giảm như chứng khoán, bất động sản. 

Khó khăn dần hiện hữu với ngành ngân hàng
Tăng trưởng cung tiền (M2) tiếp tục giảm mạnh chủ yếu do sự sụt giảm tiền gửi KHDN (chiếm 50% tổng M2), mặc dù tiền gửi KHCN đang tăng trở lại

Trong khi đó, tiền gửi KHDN tiếp tục sụt giảm đáng kể cùng thời điểm. Theo đó, số dư tiền gửi của các doanh nghiệp tại hệ thống ngân hàng đã giảm hơn 338.000 tỷ đồng (tương đương giảm 5,68%) trong 2 tháng đầu năm nay.

Đáng chú ý, đây là tháng thứ hai liên tiếp tiền gửi của các tổ chức kinh tế suy giảm. Thực tế, việc tiền gửi của nhóm khách hàng này giảm trong những tháng đầu năm cũng không phải là chuyện hiếm do yếu tố mùa vụ Tết Nguyên đán chi trả lương, thưởng cho người lao động.

Tuy nhiên, mức giảm trong 2 tháng đầu năm 2023 là mức giảm mạnh nhất trong 3 năm gần đây, phần nào phản ánh sự khó khăn của các doanh nghiệp giai đoạn hiện nay. Không ít khách hàng đã phải đã hạn chế việc vay vốn thời điểm này do lãi suất lên cao, thay vào đó họ rút bớt tiền gửi để tài trợ cho hoạt động kinh doanh.

Dù thanh khoản trên thị trường liên NH đã dồi dào trở lại, kênh tiền gửi khách hàng hiện vẫn chiếm phần lớn trong tổng huy động của các NH. Theo đó, xu hướng nói trên sẽ có lợi cho thanh khoản của các NH có tỷ trọng tiền gửi lớn đến từ KHCN và hệ số LDR cao như STB, ACB, VCB…

Theo thống kê từ báo cáo tài chính của 27 ngân hàng giao dịch trên sàn chứng khoán, tính đến cuối quý 1/2023, các nhà băng có hơn 8,58 triệu tỷ đồng tiền gửi khách hàng, tăng 3,6% so với đầu năm. Trong đó, top 10 ngân hàng có nhiều tiền gửi khách hàng nhất hiện đang nắm giữ 6,75 triệu tỷ đồng tiền gửi khách hàng, chiếm tỷ trọng gần 78,9% trong 27 ngân hàng.

Ngân hàng nào sẽ hạn chế được rủi ro NIM thu hẹp?

Theo số liệu từ VnDirect, NIM trung bình của 25 NH niêm yết giảm 18 điểm cơ bản trong quý 1/2023 do các NH đã phải hi sinh một phần lợi nhuận để hỗ trợ khách hàng. Hơn nữa, NIM của 1 số NHTM như TCB, TPB, VPB, MBB… giảm đáng kể do TPDN và cho vay tiêu dùng (2 lĩnh vực có lợi suất cao hơn các khoản vay thông thường) đang khó khăn.

VnDirect cho rằng xu hướng tăng cho vay khách hàng doanh nghiệp và huy động từ khách hàng cá nhân sẽ duy trì tới khi lãi suất hạ nhiệt rõ rệt và nền kinh tế có sự phục hồi (ít nhất đến quý 3/2023). Vì vậy trong 2023, NIM của các NHTM cho vay khách hàng doanh nghiệp và nắm giữ TPDN trong danh mục tín dụng và huy động chỉ phụ thuộc vào tiền gửi khách hàng, sẽ giảm mạnh hơn toàn ngành.

Ngược lại, nhóm NH tập trung cho vay bán lẻ và có nguồn huy động đa dạng (từ liên NH, KHCN, CASA cao…) như VIB, HDB, MBB… sẽ hạn chế được rủi ro NIM thu hẹp. Riêng với STB, NIM sẽ cải thiện đáng kể nhờ không còn áp lực lãi dự thu.

Ngân hàng nào sẽ hạn chế được rủi ro NIM thu hẹp

Bên cạnh đó, VnDirect cũng lưu ý chất lượng tài sản vẫn là yếu tố đáng quan tâm nhất. Theo số liệu từ NHNN, tỷ lệ nợ xấu nội bảng toàn ngành đã tăng lên mức 2,9% cuối quý 1/2023 (so với 2% cuối 2022). Đa số các NH đều ghi nhận tỷ lệ NPL tăng và LLR giảm so với quý trước.

Khó khăn từ thị trường BĐS vẫn là một thử thách lớn cho triển vọng ngành NH khi lĩnh vực này chiếm đến 21% tín dụng hệ thống vào cuối 2022. NH với bộ đệm dự phòng tốt và danh mục cho vay không tập trung vào BĐS như VCB, ACB… sẽ hạn chế được rủi ro hiện tại.

Tuy vậy, VnDirect kỳ vọng áp lực trích lập dự phòng cũng như rủi ro nợ xấu của các NH, cụ thể như TCB, MBB, VPB… được giảm bớt trong thời gian tới, khi dòng tiền của các DN BĐS có thể cải thiện phần nào nhờ các chính sách hỗ trợ được ban hành và một số các dự án BĐS được tháo gỡ pháp lý.

Trung Anh