Báo cáo mới cập nhật của SSI Research nhận định dữ liệu vĩ mô tháng 11 cho thấy những tín hiệu trái chiều, khi ngành chế biến chế tạo và thương mại đã xấu đi nhanh chóng vì cả những yếu tố bên ngoài và bên trong, thì diễn biến tỷ giá lại có dấu hiệu ổn định dần về cuối tháng.
Tín hiệu khó khăn từ ngành chế biến chế tạo
Báo cáo chỉ ra rằng, sự giảm tốc của kinh tế toàn cầu và số lượng đơn đặt hàng mới chậm lại đã ngày càng tác động sâu rộng hơn tới hầu hết các nhóm ngành chế biến chế tạo. Các chỉ số về sản xuất, PMI hay xuất khẩu đều kém tích cực trong tháng 11.
Trong đó, chỉ số sản xuất công nghiệp cho ngành chế biến chế tạo tháng 11 (IIP) chỉ tăng 4,4% so với cùng kỳ (so với mức 5,7% vào tháng 10) và chỉ số PMI lần đầu tiên kể từ tháng 8/2021 ghi nhận xuống dưới 50 điểm. Số lượng đơn đặt hàng mới, đơn hàng xuất khẩu, sản lượng, việc làm và hoạt động mua hàng đều giảm tốc, cho thấy triển vọng tăng trưởng của ngành chế biến chế tạo trong thời gian tới sẽ không mấy khả quan.
Tương tự, số liệu xuất nhập khẩu ước tính trong tháng 11 từ Tổng cục Thống kê cũng cho thấy kết quả đáng lo ngại. Xuất khẩu đảo chiều khi ghi nhận mức tăng trưởng âm so với cùng kỳ (giảm 8,4%), trong đó, mức sụt giảm mạnh nhất đến từ nhóm điện tử tiêu dùng (giảm 13,9%), dệt may (giảm 6,4%) hay điện thoại di động (giảm 0,7% so với cùng kỳ) và thép (giảm 70%). Tăng trưởng xuất khẩu tới các đối tác chính cũng giảm đáng kể như Mỹ (giảm 12,4%) hay EU (giảm 2,8%). Nhập khẩu hạ nhiệt (giảm 7,3% so với cùng kỳ) cũng là yếu tố đáng lo ngại, cho thấy việc cắt giảm nhập khẩu các mặt hàng trung gian do đơn hàng xuất khẩu yếu đi.
Như vậy, với những dấu hiệu trên, khả năng để xuất khẩu có thể đảo chiều tăng trưởng trong tháng 12 là khá thấp, đặc biệt đặt trong bối cảnh mức nền cao vào cuối năm ngoái.
Tiêu dùng bất ngờ được điều chỉnh tăng trong bối cảnh lạm phát tiếp tục tăng tốc
Tiêu dùng nội địa bất ngờ ghi nhận mức tăng khá mạnh trong tháng 11 (2,6% so với tháng trước và 17,5% so với cùng kỳ), và số liệu chính thức tháng 10 cũng được điều chỉnh tăng đáng kể (tăng 3,0% so với số liệu sơ bộ) trong tất cả ngành nhỏ, từ bán lẻ hàng hóa đến du lịch. Tính chung 11 tháng năm 2022, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 20,5%, và nếu loại trừ yếu tố giá tăng 16,9%.
Đáng chú ý, TCTK đã đề cập tới việc quy mô tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 11 tháng năm 2022 chỉ đạt 82,5% quy mô của chỉ tiêu này nếu ước tính trong điều kiện bình thường không xảy ra dịch. Điều này cho thấy tiêu dùng nội địa có phục hồi nhưng chưa thể quay về lại tốc độ tăng trưởng như thời kỳ trước dịch, trong đó chúng tôi cho rằng lạm phát cao và doanh thu du lịch (do Trung Quốc chưa mở cửa) là yếu tố chính tác động tới điều này.
Lạm phát bắt đầu tăng tốc kể từ cuối Quý 2, trong đó đáng chú ý là giá thuê nhà tăng mạnh (tiếp tục tăng 2% trong tháng 11, sau khi tăng tới 17% trong 2 tháng 9 và 10) là yếu tố phần nào tác động tới tiêu dùng nội địa. Trên thực tế, mặc dù lạm phát chung đã có dấu hiệu hạ nhiệt so với tháng 10 (đi ngang, và tăng 4,4% so với cùng kỳ), lạm phát cơ bản đã được đẩy lên tăng 4,8% so với cùng kỳ.
Nhờ mức trung bình thấp trong nửa đầu năm 2022, SSI duy trì dự báo lạm phát bình quân năm 2022 ở mức 3,4% (thấp hơn mục tiêu của chính phủ là 4%) và áp lực lạm phát sẽ lớn dần hơn trong nửa đầu năm 2023, đặc biệt khi xem xét việc điều chỉnh giá các nhóm hàng thuộc quản lý của Chính phủ như điện, y tế, giáo dục hay là tác động truyền dẫn của tỷ giá đối với chi phí nhập khẩu.
Giải ngân FDI là điểm sáng trong tháng trong khi giải ngân đầu tư công không có nhiều cải thiện
Về đầu tư, giải ngân vốn FDI trong 11 tháng có mức tăng trưởng tốt, đạt 19,68 tỷ USD và tăng 15,1% so với cùng kỳ - cao hơn mức tăng trưởng trung bình trước Covid-19. Ước tính FDI giải ngân đạt khoảng 21-22 tỷ USD trong năm 2022, và là yếu tố cơ bản hỗ trợ cho cán cân thanh toán và tỷ giá. Về vốn FDI đăng ký, tổng vốn FDI cam kết trong 11 tháng đầu năm đạt 21,2 tỷ USD (chỉ còn giảm 3% so với cùng kỳ) và nhờ vậy kỳ vọng FDI giải ngân trong giai đoạn tới vẫn còn tích cực.
Về giải ngân đầu tư công, số liệu từ Bộ Tài chính cho thấy tốc độ không có nhiều sự cải thiện. Tính đến tháng 11, giải ngân đầu tư công ước tính đạt 58% kế hoạch năm 2022, thấp hơn nhiều so với cùng kỳ (64% kế hoạch). Với việc chỉ còn 2 tháng để giải ngân trong năm ngân sách 2022, kế hoạch giải ngân 95-100% như kỳ vọng của Chính phủ rất khó để hoàn thành.
Rủi ro mất cân bằng vĩ mô tạm thời lắng xuống
Tình hình thanh khoản trên hệ thống đã có tín hiệu dịu lại về cuối tháng, nhờ các nghiệp vụ thị trường mở được điều tiết linh hoạt cũng như các doanh nghiệp phát hành đã phần nào giải quyết tạm thời các vấn đề liên quan đến việc gia hạn/giãn/cơ cấu lại trái phiếu doanh nghiệp.
Tuy nhiên, mặt bằng lãi suất huy động ở thị trường 1 vẫn tiếp tục xu hướng tăng trong tháng. Tính đến hiện tại, mức lãi suất phổ biến cho kỳ hạn trên 6 tháng ở các NHTMCP đã được đẩy lên vùng 8,5 – 9,5%/năm và chưa tính đến các mức khuyến mãi tăng thêm dành cho những khoản tiền gửi giá trị lớn. Nhìn chung, lãi suất huy động đã tăng khoảng 350 – 400 điểm cơ bản so với cuối năm 2021 cho kỳ hạn trên 6 tháng và mức này cũng đã cao hơn so với thời điểm trước Covid. Tuy nhiên, áp lực đối với lãi suất thị trường 1 vẫn còn khá cao khi số liệu mới nhất về tăng trưởng tín dụng và huy động từ NHNN (tính đến cuối tháng 10) vẫn chưa cho thấy sự cải thiện đáng kể trong chênh lệch huy động – tín dụng của nền kinh tế.
Trái ngược lại, đà tăng của lãi suất cho vay phần nào chậm hơn, hay thậm chí còn giảm nhằm thực hiện chủ trương của Quốc hội, Chính phủ và chỉ đạo của NHNN về triển khai các giải pháp thúc đẩy phục hồi và phát triển nền kinh tế. Trên thực tế, trong vòng vài ngày qua, hai ngân hàng VCB và HDB đã công bố việc giảm lãi suất cho vay, từ 0,5% đên 3,5%/năm đối với các khoản vay VNĐ đối với một số nhóm khách hàng doanh nghiệp và khách hàng cá nhân hiện hữu với thời gian triển khai từ ngày 1/11 - 31/12.
Về tăng trưởng tín dụng, NHNN vừa qua cũng đã phát những tín hiệu về việc sẽ nới hạn mức tín dụng trong năm 2022, trong đó sẽ tập trung vào những ngân hàng có năng lực tài chính đảm bảo đạt các yêu cầu theo đánh giá của cơ quan quản lý, đang được giao hỗ trợ tái cơ cấu các ngân hàng TMCP 0 đồng hay hỗ trợ các quỹ tín dụng nhân dân. Tuy nhiên, cũng cần phải lưu ý rằng việc bổ sung thêm hạn mức tín dụng sẽ chỉ giải quyết một phần nhỏ vấn đề ở thời điểm hiện tại, đến từ một số yếu tố sau. Thứ nhất, theo thông tin từ NHNN, hạn mức tín dụng đã được phân bổ cho các NHTM là 14% và tăng trưởng tín dụng đến nay mới đạt 11,5% so với đầu năm. Do vậy, dư địa để các NHTM cấp tín dụng tại thời điểm hiện tại là có, tuy nhiên vấn đề phần nhiều đến từ các tiêu chí cho việc giải ngân cho vay có được nới ra không. Thứ hai, chênh lệch huy động vốn – tín dụng chưa có nhiều cải thiện và do đó, việc nới trần tín dụng phù hợp hơn để gia hạn khoản vay cũ, thay vì dành cho các khoản vay mới.
Về tỷ giá, trước diễn biễn hạ nhiệt của USD thế giới cũng như tình trạng thanh khoản hệ thống cải thiện, tỷ giá niêm yết tại các NHTM, tỷ giá chợ đen và tỷ giá liên ngân hàng đều đã được điều chỉnh giảm mạnh trong tuần cuối tháng 11. Trong đó, tính đến ngày 2/12, tỷ giá niêm yết đã giảm tới 2,4% trong vòng 1 tuần, hiện chỉ còn tăng 6,5% so với cuối năm 2021. Trước đó, NHNN đã điều chỉnh hạ tỷ giá bán tại Sở GDNHNN 3 lần trong tháng 11, về VND 24,840/USD, và nhiều khả năng NHNN sẽ tiếp tục hạ trong thời gian tới với bước giá cao hơn. Nhìn chung, tâm lý găm giữ USD có thể đã được giải tỏa nhờ chênh lệch tăng cao giữa lãi suất huy động VND và USD. Bên cạnh đó, các yếu tố cơ bản liên quan đến nguồn cung ngoại tệ cũng có nhiều điểm tích cực, như dòng vốn FDI giải ngân, FII, cán cân thương mại thặng dư hay dòng tiền từ các khoản vay ngoại tệ mới được giải ngân từ MSN, VPB, VCI, LTG,…
Dữ liệu vĩ mô tháng 11 cho thấy những tín hiệu trái chiều, khi ngành chế biến chế tạo và thương mại đã xấu đi nhanh chóng vì cả những yếu tố bên ngoài và bên trong, thì các yếu tố liên quan đến ổn định vĩ mô có sự cải thiện về cuối tháng. Nhờ vậy, SSI duy trì dự báo GDP ở mức 8% vào năm 2022 và 6-6,2% vào năm 2023, trong khi đó tăng trưởng GDP trong quý 4 năm 2022 ước tính vào khoảng 5,5-6,0%. Khó khăn trong thời gian tới đến từ sự giảm tốc trong lĩnh vực sản xuất và rủi ro trong ngắn hạn tiếp tục là thanh khoản hệ thống, khi trái phiếu doanh nghiệp đến hạn cao dần về cuối năm.
Trung Anh