Nhiều ngân hàng cho vay khác trong ngành ngân hàng của Mỹ đang ngồi trên đống lửa khi những khoản lỗ chưa thực hiện được do lãi suất tăng nhanh.
Nhiều ngân hàng Mỹ có nguy cơ theo gót chân của Ngân hàng Thung lũng Silivcon. Ảnh: Getty Images
Theo một bài báo đăng trên mạng nghiên cứu Khoa học xã hội Mỹ mới đây, có tới gần 200 ngân hàng Mỹ đang phải đối mặt với những rủi ro tương tự như những gì đã dẫn đến sự sụp đổ và phá sản của Ngân hàng Thung lũng Silicon (SVB). SVB, một công ty tài chính của Mỹ tập trung cho vay vào lĩnh vực công nghệ và khởi nghiệp, đã bị các cơ quan quản lý đóng cửa vào tuần trước sau khi các khoản tiền gửi ồ ạt bị rút khỏi ngân hàng.
Trong bài nghiên cứu, các nhà kinh tế học đến từ các trường đại học nổi tiếng của Mỹ đã ước tính giá trị thị trường mà các tài sản do các ngân hàng Mỹ nắm giữ đã bị mất do các đợt tăng lãi suất gần đây.
Theo các nhà nghiên cứu, “Từ ngày 07 tháng 3 năm 2022 đến ngày 6 tháng 3 năm 2023, lãi suất từ quỹ liên bang đã tăng mạnh từ 0,08% lên 4,57% và mức tăng này đi kèm với việc thắt chặt định lượng. Kết quả là, các tài sản dài hạn tương tự như tài sản được giữ trên bảng cân đối kế toán của ngân hàng đã bị giảm giá trị đáng kể trong cùng thời kỳ”.
Mặc dù lãi suất cao hơn có thể mang lại lợi ích cho các ngân hàng bằng cách cho phép họ cho vay với lãi suất cao hơn, nhưng nhiều ngân hàng tại Mỹ đã gửi một phần đáng kể tiền mặt dư thừa của họ vào Kho bạc nước này giữa lúc lãi suất ở mức gần bằng không. Vẫn biết giá trị của những trái phiếu này hiện đã giảm đi rất nhiều do lãi suất tăng, song các nhà đầu tư chỉ cần mua trái phiếu mới phát hành có lãi suất cao hơn thì hoàn toàn có thể bảo đảm an toàn. Không những vậy, theo các chuyên gia, danh mục đầu tư của các ngân hàng sụt giảm là điều không thực tế, nghĩa là giá trị chứng khoán sụt giảm nhưng mức lỗ vẫn chỉ là “trên giấy tờ”.
Điểm đáng chú ý, vấn đề phát sinh là khi khách hàng yêu cầu trả lại tiền gửi và các ngân hàng buộc phải bán chứng khoán của họ (với mức lỗ đáng kể), để trả lại cho người gửi tiền. Trong những trường hợp cực đoan, điều này có thể dẫn đến việc ngân hàng mất khả năng thanh toán, hoặc như đã xảy ra với Ngân hàng Thung lũng Silicon, sự mất lòng tin trong trường hợp này có thể gây ra tình trạng người gửi tiền tháo chạy khỏi các ngân hàng.
Các tác giả của báo cáo đã xem xét các nguồn tiền tài trợ từ những người cho vay Mỹ qua các khoản tiền gửi không được bảo hiểm: tỷ lệ này càng lớn thì ngân hàng càng dễ bị rút tiền. Chẳng hạn, tại SVB, nơi 92,5% tiền gửi không được bảo hiểm, dòng tiền gửi chảy ra ngoài đã khiến ngân hàng sụp đổ chỉ trong vòng hai ngày.
Giới nghiên cứu đã tính toán, rằng 186 ngân hàng Mỹ không có đủ tài sản để thanh toán cho tất cả khách hàng nếu thậm chí một nửa số người gửi tiền không có bảo hiểm quyết định rút tiền của họ.
Các nhà kinh tế kết luận, rằng: “Tính toán, cho thấy các ngân hàng này chắc chắn có nguy cơ bị rút tiền, nếu không có sự can thiệp hoặc tái cấp vốn khác của chính phủ… Nhìn chung, những tính toán này cho thấy rằng sự sụt giảm gần đây về giá trị tài sản ngân hàng đã làm tăng đáng kể tính mong manh của hệ thống ngân hàng Mỹ đối với việc người gửi tiền không được bảo hiểm rút tiền”. Đồng thời họ lưu ý, rằng số ngân hàng gặp rủi ro có thể “lớn hơn đáng kể” nếu “việc rút tiền gửi không có bảo hiểm sẽ dễ gây ra những vụ ‘cháy hàng’, dù chỉ nhỏ”.
Sự thất bại của SVB đã gây ra những gợn sóng trên toàn bộ ngành ngân hàng Mỹ và khiến một ngân hàng cho vay khác, Signature Bank phải đóng cửa. Nhiều tổ chức tài chính khác đã chứng kiến giá cổ phiếu lao dốc, trong đó sáu ngân hàng lớn nhất Phố Wall đã bốc hơi khoảng 165 tỷ USD vốn hóa thị trường, tương đương khoảng 13% giá trị kết hợp của họ.
Đầu tuần này, cơ quan xếp hạng tín nhiệm Moody's đã hạ triển vọng đối với hệ thống ngân hàng Mỹ từ 'ổn định' xuống 'tiêu cực', với lý do “môi trường hoạt động đang xấu đi nhanh chóng”.
Thái Đạt