09:54 25/12/2023

Những động lực tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2024

Báo cáo chiến lược 2024 của Chứng khoán MB (MBS) chỉ ra động lực tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2024 đến từ việc hoạt động xuất khẩu tiếp tục tăng trưởng khá, các nút thắt đầu tư những năm trước đã được tháo gỡ. Bên cạnh đó, chính sách tiền tệ sẽ ở trạng thái cân bằng hơn, tích cực cũng hỗ trợ cho tăng trưởng trong năm 2024.

 Xuất khẩu năm 2024 tăng trưởng dương 6 – 7% trên nền thấp của năm trước 

Mặc dù tăng trưởng kinh tế toàn cầu thấp, cầu tiêu dùng toàn cầu còn yếu, hàng rào bảo hộ gia tăng, nhiều quốc gia tiếp tục duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt, MBS cho rằng xuất khẩu sẽ tích cực hơn trong năm 2024, nhờ các yếu tố sau.

Thứ nhất, theo WTO, thương mại toàn cầu được dự báo sẽ tăng trưởng 3.3% trong năm 2024, cao hơn mức 0.8% trong năm 2023 chủ yếu nhờ hàng tồn kho thế giới đã tạo đáy cũng như áp lực chuỗi cung ứng toàn cầu đã hạ nhiệt đáng kể.

Thứ hai, nhu cầu điện thoại đã có dấu hiệu tạo đáy trong Q2/23. Mặc dù sản lượng điện thoại toàn cầu Q3/23 vẫn giảm nhẹ 0.7% svck song đã tăng 11.8% so với Q2/23, chủ yếu do cầu tiêu dùng Trung Quốc đã phục hồi tích cực trong Q3/23.

Thứ ba, nhu cầu linh kiện điện tử cũng dự kiến sẽ tăng trở lại trong những tháng tới nhờ sự phục hồi của ngành sản xuất chip và gia tăng nhu cầu ứng dụng công nghệ AI. Theo báo cáo từ SEMI và TechInsights, doanh số hàng điện tử (GPUs, CPUs, IC,…) toàn cầu, đã tăng 7% trong Q3/23, và dự kiến sẽ tăng mạnh 22% trong Q4/23.  

Những động lực tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2024
Một số mặt hàng xuất khẩu chủ chốt của Việt Nam ghi nhận mức tăng trưởng tích cực trong những tháng cuối năm (% svck)

Về thị trường, đối với thị trường Mỹ, MBS cho rằng mức độ phục hồi sẽ chậm hơn do của chính sách tiền tệ nới lỏng cũng như hiệu ứng từ việc nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược toàn diện sẽ phát huy tác dụng từ cuối năm 2024. Đối với thị trường Trung Quốc, MBS kỳ vọng thị trường xuất khẩu vào quốc gia sẽ tiếp tục phục hồi mạnh trong năm 2024 nhờ tiêu dùng tăng trở lại.  

Bên cạnh nỗ lực khai thác các thị trường lớn và truyền thống, việc mở thêm được các thị trường xuất khẩu mới là rất quan trọng, nhất là trong tiêu thụ các mặt hàng nông sản thế mạnh của Việt Nam. Được biết Bộ Công Thương đã và đang đẩy mạnh đàm phán, ký kết các hiệp định, cam kết, liên kết thương mại mới, trong đó có hoàn tất đưa vào thực thi FTA với Israel, ký kết các FTA với các đối tác khác còn nhiều tiềm năng như UAE, Khối Thị trường chung Nam Mỹ (MERCOSUR)… để đa dạng hóa thị trường, qua đó góp phần hóa giải những khó khăn và phục hồi xuất khẩu trong ngắn hạn. 

Đi cùng với cơ hội, những thách thức đối với tăng trưởng xuất khẩu Việt Nam năm 2024 bao gồm: chi phí vận tải có thể tăng đột biến bởi các xung đột địa chính trị (bất ổn ở khu vực biển Đỏ, chiến tranh khu vực Trung Đông,...); gia tăng cạnh tranh từ các nước xuất khẩu đổi thủ như Trung Quốc, Indonesia, Thái Lan,... Trong khi đó, ở trong nước, các doanh nghiệp của Việt Nam phải đương đầu với chi phí lãi vay vẫn ở mức cao, chi phí đầu vào tăng do tăng giá điện, tăng lương cơ bản,...

Trên cơ sở các cơ hội và thách thức, MBS dự báo xuất khẩu sẽ tăng trưởng 6% - 7% trong năm 2024, thặng dư cán cân thương mại ở mức 12 – 15 tỷ USD. 

Những động lực tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2024
Dự báo tăng trưởng xuất nhập khẩu và cán cân Thương mại năm 2023 - 2024

Đầu tư công năm 2024 sẽ khác?

Trong năm 2023, mặc dù giải ngân đầu tư công ước hoàn thành 65% - 70% kế hoạch Quốc hội đặt ra song có thể thấy tốc độ giải ngân chỉ tăng mạnh trong nửa sau của năm 2023. Đây là kết quả từ những nỗ lực của cơ quan quản lý trong việc tháo gỡ những nút thắt của công tác giải ngân từ khâu phân bổ, phê duyệt các dự án đầu tư, công tác đầu thầu cho đến giải phóng mặt bằng,..

Trong kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XV vào tháng 12/2023, Chính phủ đã trình kế hoạch dự chi ngân sách cho đầu tư năm 2024, trong đó, Dự toán chi đầu tư phát triển là 677,300 tỷ đồng, tăng 108,000 tỷ đồng so với dự toán năm 2023 (không kể phần kinh phí bố trí cho Chương trình Phục hồi và Phát triển kinh tế - xã hội năm 2023); chiếm tỷ trọng 32.2% tổng chi ngân sách nhà nước. Đây là mức cao so với một số năm qua. Năm 2024 được xem là năm bản lề để hoàn thành Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021 -2025 đồng thời cũng bắt tay vào xây dựng kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 - 2030.

Những động lực tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2024
Các dự án đầu tư công trọng điểm trong giai đoạn 2024 - 2025 

Hiện hầu hết các dự án đã hoàn thiện thủ tục đầu tư do đó năm nay là thời điểm đẩy nhanh tiến độ. MBS ước tính kế hoạch phân bổ vốn đầu tư công cho năm 2024 vào khoảng 750.000 tỷ đồng (bao gồm phần kết chuyển từ 2023). MBS kỳ vọng khi các nút thắt đầu tư những năm trước đã được tháo gỡ (vd: công tác chỉ định thầu đẩy nhanh quá trình giao thầu, việc khai thác các mỏ đất đá mới đã được cấp phép, giá nguyên vật liệu xây dựng đã hạ nhiệt so với giai đoạn 2021-22,…), giải ngân đầu tư công thực tế năm 2024 sẽ đạt khoảng 85 – 90% kế hoạch, tương ứng với tăng trưởng 38% - 45% so với năm 2023.

Tháng 12/2023, Thủ tướng Chính phủ có quyết định giao kế hoạch đầu tư vốn NSNN năm 2024 cho các bộ, cơ quan trung ương và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương với mục tiêu giải ngân đạt 95%. Một số bộ, cơ quan trung ương có kế hoạch vốn lớn là Bộ Giao thông vận tải (GTVT) 56,666 tỷ đồng, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 9,935 tỷ đồng, … Những địa phương có kế hoạch vốn lớn là Hà Nội (81,033 tỷ đồng), TP.HCM (79,263 tỷ đồng), Hưng Yên (19,921 tỷ đồng), Hải Phòng (17,019 tỷ đồng), Quảng Ninh (14,278 tỷ đồng), Đồng Nai (12,347 tỷ đồng), Bình Dương (15,278 tỷ đồng)…

Các dự án đầu tư công được tập trung trong giai đoạn 2024- 2025 bao gồm: 12 dự án thành phần bộ cao tốc Bắc - Nam giai đoạn 2, Cảng hàng không quốc tế Long Thành giai đoạn 1, … 

Chính sách tiền tệ cân bằng hơn, tích cực hỗ trợ cho tăng trưởng

Từ Q1/23, Việt Nam đã chuyển dịch chính sách tiền tệ từ trạng thái kiểm soát "chặt chẽ" ở những thời điểm trước đó sang trạng thái "linh hoạt, nới lỏng hơn" nhằm đáp ứng yêu cầu cấp thiết, tháo gỡ khó khăn về thanh khoản, tín dụng, thúc đẩy phục hồi, phát triển sản xuất kinh doanh.

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã thực hiện 4 lần cắt giảm lãi suất điều hành với tổng mức cắt giảm 150 điểm cơ bản, đưa lãi suất chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn xuống lần lượt là 3% và 4.5%; trần lãi suất huy động kỳ hạn dưới 6 tháng xuống mức 4.75%. Theo đó, lãi suất huy động của các NHTM giảm mạnh từ 200 – 300 điểm cơ bản ở tất cả các kỳ hạn. Tính đến cuối năm 2023, hầu hết lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng của các NHTM đều ở dưới mức 6%; các NHTM lớn đều đưa lãi suất này về mức xấp xỉ 5.0% - 5.25%, thấp hơn cả giai đoạn 2020 -21 (Covid-19).

Những động lực tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2024
 Tăng trưởng tín dụng qua các năm

Việc lãi suất đầu vào giảm sâu cũng xuất phát từ nguyên nhân cầu tín dụng thấp. Tính đến cuối tháng 11/2023, dư nợ tín dụng toàn hệ thống mới chỉ tăng 9.15% so với đầu năm, thấp hơn nhiều so với con số tăng trưởng 13.8% cùng kỳ năm ngoái, cũng như còn cách khá xa so với mục tiêu 14% mà NHNN đặt ra cho cả năm. Cầu tín dụng thấp cho thấy năng lực hấp thụ vốn của nền kinh tế còn hạn chế, doanh nghiệp và người dân chưa lạc quan về triển vọng kinh tế cũng như lãi suất cho vay còn neo ở mức cao chưa kích thích nhu cầu sử dụng vốn. 

MBS cho rằng lãi suất đầu vào có khả năng tạo đáy trong Q1/24 và khó có khả năng giảm thêm chủ yếu do cầu tín dụng sẽ có xu hướng tăng lên trong năm 2024. Trong bối cảnh xuất khẩu tăng trưởng tích cực hơn ở mức 6 – 7%, đầu tư và tiêu dùng đều khởi sắc trên nền thấp của cùng kỳ năm ngoái, MBS cho rằng nhu cầu sử dụng vốn sẽ quay trở cân bằng với tình trạng dư thừa thanh khoản hiện nay. MBS dự báo tăng trưởng tín dụng trong năm 2024 sẽ đạt khoảng 13 – 14%.

Tuy nhiên, ở chiều ngược lại, áp lực tăng lên lãi suất không lớn do chu kỳ thắt chặt tiền tệ của Mỹ hầu như đã chấm dứt. Với dự báo lãi suất điều hành của FED sẽ hạ xuống mức xấp xỉ 4% cuối năm 2024, áp lực lên tỷ giá không lớn, NH Nhà nước sẽ có dư địa để duy trì chính sách tiền tệ như hiện tại. MBS dự báo lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng của các NHTM lớn sẽ có thể nhích thêm 25 – 50 điểm cơ bản, quay về mức 5.25% - 5.5% trong năm 2024.  

Những động lực tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2024
 Diễn biến tỷ giá USD/VND vẫn ổn định so với các đồng tiền khác trong khu vực trong năm 2023 

Khi Việt Nam chuyển sang chính sách tiền tệ linh hoạt, hỗ trợ tăng trưởng từ cuối quý 1/2023, chênh lệch lãi suất giữa VND và USD càng lớn dẫn đến tỷ giá liên ngân hàng, tỷ giá trung tâm và tỷ giá tự do đều vượt mức 24,000 đồng. Tuy nhiên, áp lực tỷ giá dần hạ nhiệt trong tháng 12 khi FED xác nhận lãi suất có thể đã đạt đỉnh và phát đi tín hiệu về các đợt cắt giảm trong năm 2024. Tính đến giữa tháng 12/2023, tỷ giá liên ngân hàng VND/USD đã tăng khoảng 3% so với đầu năm và giảm 1.4% so với đỉnh. Tuy nhiên, so với một số đồng tiền khác trong khu vực, diễn biến VND vẫn khá ổn định trong năm 2023. 

Bước sang năm 2024, trong bối cảnh lạm phát của Mỹ cải thiện đồng nghĩa với việc tăng khả năng rằng Fed sẽ bắt đầu cắt giảm lãi suất sớm hơn dự kiến, điều này sẽ hạn chế mức tăng của đồng đô la Mỹ (hiện tại đồng USD Index đã giảm 3.5% so với đỉnh 2023). Chính sách tiền tệ toàn cầu bắt đầu nới lỏng, đồng đô la Mỹ có xu hướng mất giá trên diện rộng và sẽ giảm áp lực lên tỷ giá trong nước.

MBS cho rằng, tỷ giá năm 2024 sẽ dao động trong vùng 23,800 – 24,300 VND/USD và vẫn tiếp tục sẽ được hỗ trợ bởi các yếu tố bao gồm thặng dư thương mại tuy nhiên sẽ có thể không còn tốt như bây giờ khi xuất nhập khẩu sẽ phục hồi, giải ngân FDI tích cực, lượng kiều hối ổn định (IMF dự báo lượng kiều hối trong năm 2024 lên hơn 110 tỷ USD), du lịch quốc tế hồi phục mạnh,… 

Trung Anh