19:48 08/11/2025

Nới room ngoại: Chính sách mở, đòi hỏi sự minh bạch trước nguy cơ thâu tóm

Nới tỷ lệ sở hữu nước ngoài trong lĩnh vực ngân hàng tạo điều kiện để các ngân hàng có cơ hội hút vốn và cải thiện năng lực quản trị, nhưng lại đứng trước có nguy cơ bị thâu tóm và chi phối của các nhà đầu tư nước ngoài. Đòi hỏi sự minh bạch trong quản lý và sự chủ động phòng ngừa từ chính các ngân hàng.

Giải cơn khát áp lực vốn tạo động lực hội nhập

Những năm qua, Việt Nam luôn kiểm soát chặt tỷ lệ sở hữu nước ngoài trong lĩnh vực ngân hàng nhằm đảm bảo an ninh tài chính – tiền tệ. Nghị định 01/2014/NĐ-CP, sửa đổi 2017 đã quy định tổng sở hữu nước ngoài tối đa tại một ngân hàng Việt Nam là 30% vốn điều lệ, trong đó, quy định cụ thể một tổ chức nước ngoài chỉ được có tỷ lệ sở hữu không quá 15%, một nhà đầu tư chiến lược nước ngoài không quá 20%.

Thế nhưng hiện nay, trong bối cảnh Basel III và các tiêu chuẩn an toàn vốn quốc tế được áp dụng, nhiều ngân hàng thương mại đang chịu áp lực lớn về tăng vốn chủ sở hữu, đặc biệt nhóm tư nhân và các ngân hàng tái cơ cấu. Trong khi đó, khả năng huy động trong nước còn hạn chế, thị trường chứng khoán biến động, việc gọi vốn từ nhà đầu tư nước ngoài trở thành lựa chọn mới.

Nới room ngoại Chính sách mở hay nguy cơ thâu tóm
Ảnh minh họa

Và trên thực tế, dòng vốn ngoại thời gian qua đã đóng vai trò quan trọng trong giai đoạn tái cơ cấu các ngân hàng yếu kém. Điển hình như: Sumitomo Mitsui Banking Corporation (SMBC) đầu tư 1,5 tỷ USD vào VPBank, nâng sở hữu lên 15%; Mizuho Bank nắm 15% cổ phần tại Vietcombank; hay như Shinhan Bank và Keb Hana Bank cũng đã hiện diện sâu rộng tại Việt Nam, không chỉ qua đầu tư mà còn qua hoạt động ngân hàng 100% vốn nước ngoài.

Theo số liệu được tổ chức ngân hàng đưa ra, tổng nhu cầu bổ sung vốn tự có của hệ thống ngân hàng Việt Nam giai đoạn 2025–2030 có thể lên tới 12–15 tỷ USD. Khi mà khả năng huy động trong nước còn hạn chế, thị trường chứng khoán biến động thì việc gọi vốn từ nhà đầu tư nước ngoài trở thành lựa chọn khả thi.

Trong khi, nhiều ngân hàng Việt Nam hiện vẫn phụ thuộc lớn vào tín dụng truyền thống, nhưng yêu cầu vốn tối thiểu ngày càng cao. Việc mở rộng sở hữu nước ngoài giúp bổ sung nguồn vốn dài hạn, giảm áp lực phát hành riêng lẻ trong nước. Bên cạnh đó, nhà đầu tư chiến lược còn mang đến kinh nghiệm quản trị, công nghệ ngân hàng số, quản lý rủi ro và tiêu chuẩn minh bạch quốc tế.

Một số chuyên gia nhìn nhận, việc nới tỷ lệ sở hữu nước ngoài trong lĩnh vực ngân hàng có thể giúp tăng vốn chủ sở hữu của ngân hàng nội, đáp ứng chuẩn Basel III, nâng hạng tín nhiệm quốc tế và hỗ trợ quá trình chuyển đổi số, quản trị rủi ro, minh bạch hóa hoạt động.

Ví thể như, sự tham gia của SMBC đã giúp VPBank tăng vốn chủ sở hữu lên hơn 140.000 tỷ đồng, lọt nhóm ngân hàng có năng lực tài chính mạnh. Mizuho với Vietcombank cũng giúp cải thiện quản trị theo chuẩn Nhật, nâng hiệu quả hoạt động và chỉ số an toàn vốn. Đặc biệt, khi có sự hiện diện của nhà đầu tư ngoại, thị trường ngân hàng buộc phải nâng chuẩn cạnh tranh, đặc biệt về chất lượng dịch vụ, công nghệ và an toàn bảo mật thông tin.

Chính sách mở nhưng đề phòng nguy cơ thâu tóm, chi phối hệ thống

Ngân hàng xương sống của nền kinh tế, nên việc cho phép sở hữu nước ngoài vượt ngưỡng kiểm soát có thể dẫn tới rủi ro chi phối tài chính quốc gia. Nếu một tổ chức nước ngoài nắm cổ phần chi phối tại nhiều ngân hàng, họ có thể tác động tới dòng tín dụng, chính sách lãi suất và chiến lược thị trường theo hướng có lợi cho quốc gia hoặc tập đoàn mẹ (điều này từng xảy ra ở Hàn Quốc, Thái Lan và Indonesia).

Đặc biệt là trong thời đại số, dữ liệu tài chính – khách hàng là “tài sản” chiến lược. Khi đối tác ngoại nắm giữ quyền chi phối, họ có thể tiếp cận khối dữ liệu khổng lồ này, tạo rủi ro về an ninh mạng, rò rỉ dữ liệu và cạnh tranh bất bình đẳng.

Một số chuyên gia đã đưa ra cảnh báo, cần đặc biệt thận trọng với các nhà đầu tư đến từ những quốc gia có chiến lược mở rộng ảnh hưởng tài chính, bởi “đầu tư ngân hàng” không chỉ là kinh tế, mà còn là một dạng quyền lực mềm và công cụ kiểm soát chính sách.

Theo PGS TS. Nguyễn Trí Hiếu, chuyên gia tài chính – ngân hàng, cảnh báo: “Nếu mở room mà không đi kèm tiêu chí kiểm soát, có thể xảy ra tình trạng sở hữu chéo trá hình. Một tập đoàn nước ngoài có thể dùng nhiều công ty con, quỹ đầu tư để nắm chi phối gián tiếp tại các ngân hàng Việt Nam. Khi đó, nguy cơ thao túng, chuyển giá hoặc rửa tiền là hoàn toàn có thể xảy ra.”

Bên cạnh đó, không ít quỹ ngoại đầu tư ngắn hạn chỉ nhằm mục tiêu lợi nhuận, chứ không phải phát triển bền vững. Việc họ thoái vốn bất ngờ có thể làm giảm giá trị thị trường của ngân hàng, gây bất ổn tâm lý nhà đầu tư và ảnh hưởng thanh khoản. Nếu không kiểm soát chặt tiêu chí nhà đầu tư chiến lược, sẽ xuất hiện tình trạng “đội lốt” nhà đầu tư nước ngoài để hợp thức hóa sở hữu chéo, hoặc rửa tiền qua các giao dịch chuyển vốn – điều đã từng được cảnh báo trong các báo cáo thanh tra Ngân hàng Nhà nước giai đoạn 2020–2024.

TS. Lê Xuân Nghĩa – nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia nhìn nhận:“Cần đặc biệt chú trọng an ninh tài chính, an ninh dữ liệu trong mọi thương vụ góp vốn. Cổ đông chiến lược nước ngoài phải tuân thủ quy định về lưu trữ, chia sẻ dữ liệu trong lãnh thổ Việt Nam và chịu giám sát từ Ngân hàng Nhà nước.”

Hành lang pháp lý chặt chẽ là bản lề cho phát triển thị trường tài chính

Nếu nới room ngoại, Việt Nam cần đồng thời hoàn thiện Luật Các tổ chức tín dụng (sửa đổi) và các văn bản hướng dẫn về: Quy định rõ ngưỡng cảnh báo kiểm soát, cơ chế thoái vốn bắt buộc khi vi phạm; Yêu cầu công khai cấu trúc cổ đông, nguồn vốn góp; Cơ chế giám sát dòng vốn xuyên biên giới, tránh sở hữu chéo trá hình.

Ngân hàng Nhà nước cần phối hợp với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Bộ Tài chính để theo dõi dòng vốn ngoại vào ngân hàng, tránh tình trạng thao túng gián tiếp qua các công ty trung gian hoặc quỹ đầu tư ủy thác.

Quan trọng là cần bảo đảm an ninh tài chính – dữ liệu. Trong xu thế chuyển đổi số, cần quy định cụ thể quyền truy cập, lưu trữ và chia sẻ dữ liệu khách hàng khi có cổ đông nước ngoài. Đồng thời, áp dụng chuẩn bảo mật thông tin và kiểm tra định kỳ hệ thống ngân hàng có vốn ngoại.

Và thay vì “mở toang” một lần, có thể thực hiện theo lộ trình ba giai đoạn: Giai đoạn 2025–2026: Mở tối đa 35% cho ngân hàng đang tái cơ cấu. Giai đoạn 2026–2028: Đánh giá tác động, cho phép nâng lên 40% nếu an toàn hệ thống được bảo đảm. Sau 2028: Xem xét mức cao hơn (49%) đối với ngân hàng có tỷ lệ an toàn vốn, lợi nhuận và quản trị minh bạch đạt chuẩn quốc tế.

Mở rộng sở hữu nước ngoài trong lĩnh vực ngân hàng là bước đi tất yếu trong tiến trình hội nhập, song cần được đặt trong tư duy “mở có điều kiện”, lấy lợi ích quốc gia – an ninh tài chính làm trọng tâm.

Chính sách mở nếu được thiết kế tốt sẽ giúp Việt Nam thu hút vốn, nâng năng lực quản trị, tái cấu trúc hệ thống ngân hàng yếu kém. Nhưng nếu buông lỏng kiểm soát, nó có thể biến thành cơ hội cho thâu tóm, chi phối và rủi ro an ninh tài chính quốc gia./.

Hải Bình