Theo một báo cáo mới đây của Bộ TN&MT, hiện thủy điện Việt Nam chịu sức ép về nguồn nước do các quốc gia trong khu vực ở đầu nguồn nước đã và đang xây dựng nhiều công trình thủy điện, ảnh hưởng đến lưu lượng dòng chảy và khả năng cung cấp nước cho các con sông, nhất là ở khu vực hạ lưu.
Mặc dù cơ cấu ngành điện đang dịch chuyển theo hướng giảm tỷ trọng từ thủy điện, nhưng thủy điện vẫn đóng vai trò quan trọng trong phát triển ngành điện.
Để đáp ứng các yêu cầu trữ lượng, điều tiết dòng chảy phục vụ cấp nước trong mùa khô và phòng, chống và giảm lũ, lụt trong mùa mưa, nước ta đã, đang và sẽ tiếp tục phát triển hệ thống các hồ chứa nước. Theo kết quả thống kê, rà soát sơ bộ, cả nước có trên 2.900 hồ chứa thủy điện, thủy lợi đã vận hành, đang xây dựng hoặc đã có quy hoạch xây dựng với tổng dung tích trên 65 tỷ m3.
Trong số này, khoảng 2.100 hồ đang vận hành với tổng dung tích hơn 34 tỷ m3. Trong các hồ này, có khoảng 800 hồ thủy điện, tổng dung tích trên 56 tỷ m3 – tuy nhiên, theo Bộ TN&MT cho biết, mới chỉ có 59 hồ đã đi vào vận hành. Ngoài ra, hiện toàn quốc còn khoảng 2.100 hồ chứa thủy lợi với tổng dung tích hơn 9 tỷ m3 nhưng phần lớn là hồ chứa nhỏ.
 |
| Sự cố vỡ ống dẫn dòng Thủy điện Sông Bung 2 gây ngập lụt tại vùng hạ du cách đây chưa lâu (ảnh: quochoi.vn) |
Các lưu vực sông có số lượng hồ chứa và tổng dung tích các hồ chứa lớn gồm: sông Hồng (gần 30 tỷ m3); sông Đồng Nai (trên 10 tỷ m3); sông Sê San (gần 3,5 tỷ m3); sông Mã, sông Cả, sông Hương, sông Vu Gia – Thu Bồn và sông Srêpok có tổng dung tích hồ chứa từ gần 2 tỷ m3 đến 3 tỷ m3. Có 19 tỉnh có tổng dung tích hồ chứa từ trên 1 tỷ m3 trở lên.
Việc hình thành các hồ chứa thủy điện đã phục vụ tốt việc nuôi trồng thủy sản, tưới tiêu nông nghiệp và phục vụ du lịch. Tuy nhiên, vào mùa kiệt, một số khu vực hạ du của các dự án có nhà máy chuyển dòng sang lưu vực khác bị ảnh hưởng do thiếu nguồn nước để tưới tiêu.
| Trên dòng chính sông Mê Kông có 7 công trình đập thủy điện đã được xây dựng trên phía thượng nguồn thuộc lãnh thổ Trung Quốc, dự kiến năm 2030 sẽ có 11 đập được xây dựng trên dòng chính hạ lưu sông Mê Kông tại Lào và Campuchia, trong đó có 3 đập đang được xây dựng và 1 đập dự kiến xây dựng vào năm 2022 cùng với 78 con đập trên dòng phụ của sông Mê Kông. Các đập thủy điện này không chỉ làm thay đổi dòng chảy, ngăn chặn sự di chuyển của cá, giảm luồng trầm tích, sụt giảm phù sa, gia tăng mất mát sinh học mà còn gây ô nhiễm nguồn nước, làm gia tăng nguy cơ xói lở bờ sông, lòng sông, xâm nhập mặn, tác động tích lũy xuyên biên giới đối với khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. (Trích nguồn thông tin từ Bộ TN&MT năm 2018) |
Hiện tại, chính sách cho tương lai của ngành năng lượng là tập trung phát triển nhiệt điện than như nội dung của Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia điều chỉnh giai đoạn 2011-2020 có xét đến năm 2030 (gọi tắt là QHĐ VII Điều chỉnh) đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Dự kiến đến năm 2030, lượng điện được sản xuất từ điện than đạt mức 304 tỷ kWh, chiếm khoảng 53% tổng sản lượng điện toàn quốc.
Trong khi đó, lượng điện từ các nguồn năng lượng tái tạo hiện chiếm một tỷ lệ rất nhỏ, khoảng 3,7% tổng lượng điện sản xuất (tăng lên không đáng kể vào năm 2030, chiếm 11% tổng cơ cấu nguồn). Hiện Việt Nam có 23 nhà máy điện than đang vận hành. Nếu tất cả các nhà máy nhiệt điện than trong QHĐ VII Điều chỉnh được xây dựng, con số này sẽ tăng lên hơn 60 nhà máy vào năm 2030, và sử dụng nước để làm mát của các nhà máy nhiệt điện than sẽ lên tới 216 triệu m3/ngày đêm.
Bộ TN&MT đánh giá, tất cả các hoạt động sản xuất, phân phối, tiêu thụ và tiêu hủy sau vòng đời của các nhà máy nhiệt điện than đều có liên quan đến việc sử dụng nguồn nước hoặc có tác động đến nguồn nước. Mỗi giai đoạn trong vòng đời của than từ khai thác – xử lý – vận chuyển – đốt than để sản xuất điện và thải loại đều có tác động tiêu cực tới nguồn nước.
 |
| Cơ cấu ngành điện giai đoạn 2006-2020 (nguồn: Báo cáo của ngành điện và Tổng sơ đồ điện VII, 2018) |
Tiếp theo, trong quá trình khai thác than, một lượng lớn nước ngầm sẽ bị hút khỏi lòng đất để có thể tiếp cận đến các mỏ than, ngoài ra nước còn được dùng để tưới giảm nhiệt nhằm giảm nguy cơ cháy/nổ từ quá trình khai thác than. Điều này ảnh hưởng đặc điểm địa chất thủy văn vùng khai thác, làm hạ và giảm áp mực nước ngầm và ảnh hưởng tới các con sông trong khu vực.
Bên cạnh đó, hoạt động sản xuất điện than yêu cầu một lượng nước rất lớn cho quá trình làm mát (khoảng 120-150 lít/kWh), nhiệt độ nước làm mát khi thải ra môi trường nếu không được kiểm soát chặt chẽ, có thể cao hơn đáng kể so với nhiệt độ môi trường tiếp nhận, sẽ gây “sốc nhiệt” đối với các hệ sinh thái dưới nước.
Một thống kê gần đây của Bộ NN&PTNT cho biết, cả nước có gần 7.000 hồ thủy lợi, hồ thủy điện đang hoạt động, được phân bố tại 45/63 tỉnh, thành phố. Kết quả đánh giá hiện trạng công trình hồ, đập của Tổng Cục Thủy lợi, vẫn còn khoảng 1.200 hồ chứa bị hư hỏng, xuống cấp hoặc thiếu khả năng xả lũ theo quy định…Từ năm 2008 đến nay đã xảy ra 50 sự cố về đập, hồ chứa. Cụ thể, năm 2010 với 5 hồ, năm 2011 có 5 hồ, năm 2012 có 2 hồ, năm 2013 có 10 hồ… Riêng năm 2017 do ảnh hưởng của liên tiếp những trận mưa lớn đã xảy ra sự cố vỡ, sạt lở nặng có nguy cơ vỡ ở 23 hồ, đập trên địa bàn 11/45 tỉnh có hồ.
| Quốc hội Khóa XIII đã tiến hành rà soát toàn bộ hệ thống thủy điện. Phải khẳng định hệ thống các nhà máy thủy điện được xây dựng là cần thiết vì rẻ tiền, nhưng có điều cần lưu ý là có tình trạng xây dựng tràn lan, không có quy hoạch. Rõ ràng những bất cập, nguy cơ mất an toàn từ các thủy điện cần thiết phải nghiên cứu, quy hoạch và quản lý chặt chẽ hơn. Tuy nhiên, hiện nay lực lượng quản lý, vận hành đập, hồ chứa thủy lợi còn mỏng, không bảo đảm năng lực chuyên môn, nhất là hồ nhỏ thiếu kinh phí tu sửa, bảo dưỡng, sửa chữa thường xuyên nên nhiều hồ đã bị hư hỏng, xuống cấp nghiêm trọng, nguy cơ mất an toàn và đe dọa tính mạng người dân và tài sản vùng hạ du. Bà Bùi Thị An, Đại biểu Quốc hội Khóa XIII |
Lương Nguyên