Sản xuất công nghiệp, xuất khẩu và dòng vốn đầu tư tiếp tục tăng trưởng tích cực trong 7 tháng đầu năm 2026, tạo thêm động lực cho mục tiêu tăng trưởng cao. Tuy nhiên, nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu khiến cán cân thương mại chuyển sang nhập siêu, trong khi áp lực lạm phát, giá năng lượng và mặt bằng lãi suất vẫn là những vấn đề đáng chú ý trong những tháng cuối năm.
Sản xuất và xuất khẩu tăng tốc
Hoạt động sản xuất tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực trong tháng 7. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 1,2% so với tháng trước và tăng 14,5% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 15%, tiếp tục là động lực chính của khu vực công nghiệp.
Một số ngành ghi nhận mức tăng trưởng cao như sản xuất kim loại tăng 29,4%, sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc, thiết bị tăng 22,9%, sản xuất sản phẩm điện tử, máy tính tăng 21,9%. Sản xuất và phân phối điện cũng tăng 12,5%.
Tính chung 7 tháng đầu năm, IIP tăng 11,4% so với cùng kỳ, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12%, cao hơn mức 10,3% của cùng kỳ năm trước. Diễn biến này cho thấy năng lực sản xuất tiếp tục được mở rộng trong bối cảnh nhu cầu đơn hàng phục hồi.
Tín hiệu từ chỉ số PMI cũng cho thấy xu hướng cải thiện. PMI tháng 7 đạt 52,9 điểm, cao nhất kể từ tháng 2. Số lượng đơn đặt hàng mới tăng tháng thứ ba liên tiếp, trong khi đơn hàng xuất khẩu mới tăng với tốc độ nhanh nhất trong hai năm. Sản lượng tăng mạnh nhất trong 5 tháng, kéo dài chuỗi tăng trưởng lên tháng thứ 14 liên tiếp. Đáng chú ý, tốc độ tăng chi phí đầu vào và giá đầu ra đã chậm lại, cho thấy áp lực chi phí đối với doanh nghiệp sản xuất đang phần nào hạ nhiệt.
Đà tăng của sản xuất tiếp tục hỗ trợ hoạt động xuất khẩu. Kim ngạch xuất khẩu tháng 7 đạt 53,08 tỷ USD, tăng 4,5% so với tháng trước và tăng 25% so với cùng kỳ. Trong đó, hóa chất tăng 141%, sắt thép tăng 57,4%, điện tử, máy tính và linh kiện tăng 55,1%.
Lũy kế 7 tháng, xuất khẩu đạt 319,53 tỷ USD, tăng 21,7%. Một số mặt hàng tăng trưởng mạnh gồm chất dẻo nguyên liệu tăng 57,5%, hóa chất tăng 52,7%, điện tử, máy tính và linh kiện tăng 50,1%. Ngược lại, xuất khẩu cà phê giảm 11,2%, gạo giảm 7,1% và cao su giảm 4,6%.
Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch 104,7 tỷ USD, tăng 23%. Xuất khẩu sang Trung Quốc đạt 45,6 tỷ USD, tăng 30,7%, trong khi xuất khẩu sang EU đạt gần 38 tỷ USD, tăng 18%.
Khu vực FDI tiếp tục đóng vai trò lớn trong xuất khẩu. Riêng tháng 7, khu vực này đạt hơn 42,8 tỷ USD, tăng 28% và chiếm 80,6% tổng kim ngạch xuất khẩu. Khu vực kinh tế trong nước đạt gần 10,3 tỷ USD, tăng 14% và ghi nhận tháng tăng trưởng dương thứ ba liên tiếp.
Cùng với xuất khẩu, dòng vốn FDI tiếp tục cải thiện. Trong 7 tháng đầu năm, FDI đăng ký cấp mới đạt 21,05 tỷ USD, tăng 110%, trong khi FDI giải ngân đạt 15,2 tỷ USD, tăng 11,8%. Tổng vốn FDI đăng ký, bao gồm cấp mới, điều chỉnh và góp vốn, mua cổ phần, đạt 38,06 tỷ USD, tăng 58%. Công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm khoảng 82,6% vốn FDI giải ngân, cho thấy dòng vốn nước ngoài tiếp tục tập trung vào khu vực sản xuất.
Nhập khẩu tăng nhanh, cán cân thương mại chịu sức ép
Trái với xuất khẩu, nhập khẩu đang tăng với tốc độ cao hơn đáng kể. Kim ngạch nhập khẩu tháng 7 đạt 56,67 tỷ USD, tăng 41,4% so với cùng kỳ. Lũy kế 7 tháng, nhập khẩu đạt 340,05 tỷ USD, tăng 34,8%.
Mức tăng nhập khẩu tập trung ở cả nhóm năng lượng và nhóm hàng phục vụ sản xuất. Sản phẩm khác từ dầu mỏ và xăng dầu cùng tăng 67,6%, trong khi điện tử, máy tính và linh kiện tăng 66%. Nhu cầu nhập khẩu máy móc, thiết bị, linh kiện cũng tăng trong bối cảnh nhiều dự án công nghệ và sản xuất được mở rộng.
Trung Quốc tiếp tục là nguồn cung nhập khẩu lớn nhất, với kim ngạch 138,6 tỷ USD trong 7 tháng, tăng 36% và chiếm 40,8% tổng kim ngạch nhập khẩu. Nhập khẩu từ Hàn Quốc tăng 52,4%, trong khi nhập khẩu từ Mỹ tăng 26,2%, đạt 13,3 tỷ USD.
Nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu khiến cán cân thương mại hàng hóa tiếp tục nhập siêu tháng thứ tám liên tiếp. Riêng tháng 7, mức nhập siêu đạt 3,59 tỷ USD. Lũy kế 7 tháng, cán cân thương mại hàng hóa thâm hụt 20,52 tỷ USD, trong khi cùng kỳ năm 2025 nền kinh tế xuất siêu 10,35 tỷ USD.
Việc nhập khẩu tăng mạnh một mặt phản ánh nhu cầu nguyên liệu, linh kiện, máy móc phục vụ sản xuất và đầu tư đang ở mức cao. Tuy nhiên, nếu khoảng cách giữa tốc độ tăng nhập khẩu và xuất khẩu tiếp tục duy trì, sức ép đối với cán cân thương mại và nhu cầu ngoại tệ sẽ lớn hơn.
Triển vọng xuất khẩu vẫn được đánh giá tích cực khi nhu cầu đầu tư vào AI được kỳ vọng hỗ trợ thương mại toàn cầu, trong khi Việt Nam tiếp tục đa dạng hóa thị trường sang EU, Hàn Quốc và các thị trường mới.
Từ ngày 24/7, hàng hóa Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ chịu mức thuế 12,5% theo Mục 301 liên quan đến lao động cưỡng bức, thay thế mức thuế toàn cầu tạm thời 10%. Tuy nhiên, tác động được đánh giá tương đối hạn chế khi các đối thủ cạnh tranh chính của Việt Nam như Trung Quốc, Thái Lan và Ấn Độ cũng chịu cùng mức thuế, trong khi một số mặt hàng chủ lực như điện tử, máy móc được miễn trừ.
Theo dự báo, xuất khẩu năm 2026 có thể tăng 17,5-19,8%, trong khi nhập khẩu tăng 24-26,6%, khiến thâm hụt thương mại cả năm có thể ở mức 5-7 tỷ USD.
Lạm phát hạ nhiệt nhưng dư địa chính sách thu hẹp
Áp lực lạm phát đã có dấu hiệu giảm trong tháng 7 khi CPI giảm 0,12% so với tháng trước và tăng 4,45% so với cùng kỳ, mức tăng thấp nhất trong 5 tháng. Nguyên nhân quan trọng là giá xăng dầu trong nước giảm khoảng 5% so với tháng 6 khi giá dầu thế giới hạ nhiệt.
Tuy nhiên, CPI lõi lại tăng 4,63% so với cùng kỳ, cao hơn 0,13 điểm phần trăm so với tháng trước, cho thấy áp lực giá đang dần lan sang các nhóm hàng hóa và dịch vụ.
Tính chung 7 tháng, CPI tăng 4,39%. Một số nhóm tiếp tục tạo sức ép đáng kể như hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,8%, vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 13,7%, điện sinh hoạt tăng 5,3% và giao thông tăng 5%.
Giá năng lượng vẫn là rủi ro đáng chú ý. Dù giá dầu Brent đã giảm về quanh 84 USD/thùng, giá xăng dầu trong nước vẫn cao hơn 11% so với cùng kỳ. Trong khi đó, bất ổn tại Trung Đông vẫn tiềm ẩn nguy cơ đẩy giá dầu tăng trở lại. Giá vật liệu xây dựng, tỷ giá và tốc độ tăng trưởng tín dụng cũng có thể tạo thêm áp lực lên mặt bằng giá.
Trong bối cảnh đó, tiêu dùng nội địa vẫn tăng nhưng chưa thực sự bứt phá nếu loại trừ yếu tố giá. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 7 tăng 14,5% so với cùng kỳ, đánh dấu tháng thứ năm liên tiếp tăng trưởng hai chữ số. Tuy nhiên, tính chung 7 tháng, tăng trưởng thực tế sau khi loại trừ yếu tố giá chỉ đạt 7,5%, thấp hơn mức tăng bình quân khoảng 8,5% trước đại dịch.
Các động lực tăng trưởng khác vẫn được duy trì. Khách quốc tế đến Việt Nam trong 7 tháng đạt 13,9 triệu lượt, tăng 13,8%. Giải ngân đầu tư công đạt hơn 425,3 nghìn tỷ đồng, tăng 25,6% so với cùng kỳ.
Trong khi đó, chính sách tiền tệ tiếp tục đứng trước bài toán cân bằng giữa hỗ trợ tăng trưởng và kiểm soát lạm phát. Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước tại cuộc họp với Thủ tướng ngày 13/8, chênh lệch tín dụng - huy động VND hiện khoảng 2 triệu tỷ đồng, trong khi tốc độ tăng trưởng tín dụng vẫn cao hơn huy động vốn. Đây là yếu tố có thể gây sức ép lên thanh khoản và mặt bằng lãi suất.
NHNN cho biết sẽ tiếp tục yêu cầu các tổ chức tín dụng kiểm soát mặt bằng lãi suất phù hợp, khuyến khích giảm lãi suất cho vay và chia sẻ lợi ích với khách hàng. Đáng chú ý, cơ quan này dự kiến giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2027 theo hướng giảm "room" đối với các tổ chức tín dụng không thực hiện đúng chỉ đạo về giảm mặt bằng lãi suất.
Nhìn tổng thể, kinh tế Việt Nam đang duy trì nhiều động lực tích cực khi sản xuất, xuất khẩu, FDI và đầu tư công cùng tăng trưởng. Tuy nhiên, nhập khẩu tăng nhanh, cán cân thương mại chuyển sang nhập siêu và áp lực lạm phát vẫn hiện hữu cho thấy những thách thức đối với ổn định kinh tế vĩ mô đang gia tăng. Trong những tháng cuối năm, việc duy trì đà tăng trưởng sẽ phụ thuộc không chỉ vào sức bật của sản xuất và xuất khẩu, mà còn vào khả năng kiểm soát chi phí đầu vào, ổn định tỷ giá, bảo đảm thanh khoản hệ thống ngân hàng và giữ lạm phát trong mục tiêu.
Trung Anh