Sau hơn 15 năm thực hiện, Nghị định 63 đã bộc lộ nhiều bất cập trước yêu cầu chuyển đổi số. Dự thảo sửa đổi được kỳ vọng chuyển từ “kiểm soát” sang quản trị thủ tục hành chính hiện đại, giảm tiền kiểm, tăng hậu kiểm và hạn chế gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp.
Nghị định 63 chưa theo kịp yêu cầu quản trị hiện đại
Nghị định số 63/2010/NĐ-CP về kiểm soát thủ tục hành chính từng tạo bước chuyển quan trọng trong cải cách thể chế. Nếu Đề án 30 giai đoạn 2007–2010 chủ yếu tập trung rà soát, đơn giản hóa và chuẩn hóa thủ tục trên phạm vi toàn quốc, Nghị định 63 đã đưa hoạt động này từ một chiến dịch có thời hạn trở thành cơ chế thường xuyên, gắn với quá trình xây dựng và thực thi văn bản quy phạm pháp luật.
Tuy nhiên, sau hơn 15 năm triển khai, nhiều quy định của Nghị định đã không còn theo kịp những thay đổi nhanh chóng của thực tiễn, nhất là yêu cầu xây dựng Chính phủ số, phát triển kinh tế số và đổi mới phương thức quản trị quốc gia.
Các công cụ kiểm soát thủ tục hành chính hiện vẫn thiên về phương thức quản lý truyền thống, trong khi những nguyên tắc phổ biến của quản trị hiện đại như phân loại theo mức độ rủi ro, đánh giá tác động cạnh tranh, phân tích chi phí – lợi ích, quản trị dựa trên dữ liệu và trách nhiệm giải trình theo kết quả chưa được thể chế hóa đầy đủ. Phạm vi điều chỉnh cũng còn hẹp, chưa bao quát hết những thủ tục phát sinh trong hoạt động quản lý nhà nước.
Việc thiếu tiêu chí phân loại rủi ro khiến thủ tục ở nhiều lĩnh vực vẫn được thiết kế theo một khuôn chung, chưa phân biệt rõ đối tượng và mức độ tác động. Khi chưa có công cụ quản lý thay thế, cấp phép dễ trở thành lựa chọn mặc định, kéo dài cơ chế “xin – cho”, làm tăng chi phí tuân thủ và tạo rào cản đối với cạnh tranh.
Tư duy tiền kiểm cũng còn hiện diện khá rõ. Ngay cả với những ngành, lĩnh vực có mức độ rủi ro thấp, doanh nghiệp và người dân vẫn phải trải qua nhiều khâu cấp phép, xác nhận trước khi hoạt động. Trong khi đó, nguồn lực dành cho kiểm tra, giám sát sau cấp phép chưa tương xứng.
Từ đó nảy sinh một nghịch lý: thủ tục có thể ngày càng chặt chẽ về hình thức nhưng hiệu quả quản lý thực chất chưa được cải thiện tương ứng; trái lại, gánh nặng tuân thủ tăng lên và khả năng thích ứng của nền kinh tế bị thu hẹp.
Thực tế này đặt ra yêu cầu sớm sửa đổi Nghị định 63 theo hướng mở rộng phạm vi kiểm soát, tăng cường quản trị dựa trên dữ liệu, phân loại thủ tục theo rủi ro và chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm. Đây là điều kiện cần thiết để cải cách hành chính theo kịp chuyển đổi số, đồng thời tạo môi trường minh bạch, thuận lợi hơn cho người dân và doanh nghiệp.
Nghị định số 63/2010/NĐ-CP về kiểm soát thủ tục hành chính từng tạo bước chuyển quan trọng trong cải cách thể chế. N
Từ “kiểm soát” sang quản trị thủ tục hành chính hiện đại
Dự thảo sửa đổi Nghị định 63 gồm 7 chương, 41 điều, được xây dựng theo hướng thay đổi toàn diện phương thức quản lý: từ kiểm soát từng thủ tục sang quản trị thủ tục hành chính hiện đại, thống nhất và dựa trên dữ liệu.
Một trong những điểm mới là quy trình công bố thủ tục hành chính được điều chỉnh để phù hợp với chuyển đổi số và việc xây dựng Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính tập trung. Các nền tảng số phục vụ rà soát, theo dõi và đánh giá thủ tục cũng được bổ sung nhằm giảm tình trạng phân tán dữ liệu giữa các cơ quan.
Dự thảo đồng thời mở rộng tiêu chí đánh giá tác động theo thông lệ quốc tế, đưa các nguyên tắc quản trị hiện đại vào ngay từ khâu thiết kế chính sách. Với những lĩnh vực có mức độ rủi ro thấp, cơ quan quản lý được định hướng áp dụng biện pháp đơn giản hơn, giảm tiền kiểm và tăng hậu kiểm.
Ngược lại, việc đặt ra điều kiện kinh doanh hoặc thủ tục có thể hạn chế quyền, cản trở gia nhập thị trường hay làm suy giảm cạnh tranh sẽ được kiểm soát chặt chẽ. Thẩm quyền ban hành thủ tục hành chính cũng được xác định theo hướng thống nhất, đồng bộ và tương xứng với phạm vi tác động của từng thủ tục.
Đáng chú ý, khoản 4 Điều 22 dự thảo yêu cầu công chức, viên chức phải hướng dẫn cá nhân, tổ chức chuẩn bị hồ sơ đầy đủ, rõ ràng và chính xác; không để người dân, doanh nghiệp phải đi lại bổ sung hồ sơ quá hai lần cho cùng một vụ việc. Quy định này không áp dụng nếu cá nhân, tổ chức không thực hiện đúng nội dung đã được cán bộ phụ trách hướng dẫn. Nghị định dự kiến có hiệu lực từ ngày 15/9/2026.
Trong quá trình góp ý, Ngân hàng Nhà nước đề nghị làm rõ phạm vi và tiêu chí xác định thủ tục hành chính “ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh” tại Điều 6. Theo cơ quan này, khái niệm trên quá rộng, khó áp dụng thống nhất và có thể bao trùm phần lớn thủ tục thuộc các lĩnh vực quản lý nhà nước.
Tiếp thu ý kiến, Bộ Tư pháp đã chỉnh lý Điều 6 theo hướng xác định cụ thể hơn những nhóm thủ tục cần được quy định ở cấp văn bản đủ thẩm quyền. Theo đó, nếu thủ tục làm hạn chế quyền của cá nhân, tổ chức, quyền tự do kinh doanh, cạnh tranh bình đẳng hoặc tác động đến sức khỏe cộng đồng, môi trường, an toàn, an ninh và trật tự xã hội, các yêu cầu, điều kiện liên quan phải được quy định từ nghị định, nghị quyết của Chính phủ trở lên.
Riêng thủ tục hành chính liên thông phải được quy định tại nghị định, nghị quyết của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ hoặc văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn. Cách tiếp cận này nhằm hạn chế việc tùy tiện đặt thêm thủ tục, điều kiện ở cấp thực thi, đồng thời nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan quản lý.
Thanh Cao