Trong tháng 10/2019, thị trường nông sản trong nước diễn biến phức tạp. Giá lúa gạo tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) tăng nhẹ do nguồn cung lúa hàng hóa đang bị thu hẹp, với phần lớn diện tích lúa Thu Đông ở khu vực ĐBSCL đã được thu hoạch và tiêu thụ hết.
Theo tìm hiểu, gần đây hoạt động thu mua lúa cũng được nhiều tiểu thương và doanh nghiệp đẩy mạnh để đảm bảo nguồn hàng phục vụ các đơn hàng xuất khẩu, cũng như phục vụ nhu cầu tại thị trường nội địa trong các tháng cuối năm.
Giá lúa gạo tại ĐBSCL tăng nhẹ trong tháng 10/2019.
Theo hệ thống cung cấp giá tại địa phương, tại An Giang, lúa IR50404 tăng 500 đ/kg, từ 4.300 đ/kg lên 4.800 đ/kg, lúa OM 5451 giữ ở mức 5.100 - 5.400 đ/kg; lúa OM4218 tăng 200 đ/kg lên mức 4.900 đ/kg; gạo IR50404 ở mức 10.000 đ/kg; gạo chất lượng cao ở mức 13.000 đ/kg; gạo thơm đặc sản jasmine ở mức 14.000 đ/kg.
Tại Vĩnh Long, lúa Thu Đông tại huyện Vũng Liêm tăng 200 đ/kg lên mức 4.300 đ/kg; gạo IR50404 ở mức 12.000 đ/kg; gạo jasmine ở mức 14.000 đ/kg. Tại Kiên Giang, lúa IR50404 tăng 300 đ/kg lên mức 5.300 đ/kg; lúa OM 4218 tăng 300 đ/kg lên mức 5.500 – 5.700 đ/kg; lúa OM 6976 tăng 300 đ/kg lên 5.600 – 5.800 đ/kg; lúa Jasmine ổn định ở mức 5.800 – 6.000 đ/kg.
Khối lượng gạo xuất khẩu tháng 10 năm 2019 ước đạt 499 nghìn tấn với giá trị đạt 228 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu gạo 10 tháng đầu năm 2019 ước đạt 5,56 triệu tấn và 2,43 tỷ USD, tăng 6,1% về khối lượng nhưng giảm 9,1% về giá trị so với cùng kỳ năm 2018.
Phillipines là thị trường số 1 về nhập khẩu gạo của Việt Nam.
Trong 9 tháng đầu năm 2019, Philippin đứng vị trí thứ nhất về thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam với 35,1% thị phần. Xuất khẩu gạo sang thị trường này trong 9 tháng đầu năm 2019 đạt 1,89 triệu tấn và 773,8 triệu USD, gấp 2,9 lần về khối lượng và gấp 2,6 lần về giá trị so với cùng kỳ năm 2018.
Các thị trường có giá trị xuất khẩu gạo tăng mạnh là: Xenegal (gấp 297 lần), Bờ Biển Ngà (tăng 81,8%), Úc (tăng 69,8%), Hồng Kông (tăng 46,9%) và Irắc (tăng 32,7%). Giá gạo xuất khẩu bình quân 9 tháng đầu năm 2019 đạt 435,6 USD/tấn, giảm 13,4% so với cùng kỳ năm 2018.
Về chủng loại xuất khẩu, trong 9 tháng đầu năm 2019, giá trị xuất khẩu gạo trắng chiếm 47,1% tổng kim ngạch; gạo jasmine và gạo thơm chiếm 39,5%; gạo nếp chiếm 7,3%; và gạo japonica và gạo giống Nhật chiếm 5,8%. Các thị trường xuất khẩu gạo trắng lớn nhất của Việt Nam là Phillipines (51,0%), Malaysia (12,0%) và Cuba (11,8%).
Với gạo Jasmine và gạo thơm, thị trường xuất khẩu lớn nhất là Phillipines (24,6%), Bờ Biển Ngà (16,5%) và Irắc (13,9%). Về gạo nếp, thị trường xuất khẩu lớn là Trung Quốc (50,2%), Phillipines (19,1%) và Malaysia (11,6%).
Với gạo Japonica và gạo giống Nhật, thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam là Singapore (22,2%), Papua New Guinea (9,0%) và Ai Cập (8,4%).
Trung Thành