Doanh nghiệp - Doanh nhân

11:59 11/07/2026

Thị trường gỗ xuất khẩu: Khi dấu chân carbon trở thành lợi thế cạnh tranh

Giá thành, chất lượng và tiến độ giao hàng từng là những tiêu chí quyết định sức cạnh tranh của doanh nghiệp gỗ xuất khẩu. Khi các thị trường lớn ngày càng siết yêu cầu về nguồn gốc nguyên liệu, phát thải và tính minh bạch của chuỗi cung ứng, dấu chân carbon đang dần trở thành một thước đo mới trong lựa chọn nhà cung cấp.

 

Thị trường gỗ xuất khẩu Khi dấu chân carbon trở thành lợi thế cạnh tranh
Kiểm tra rừng trồng FSC tại Đình Lập (Lạng Sơn), nơi dữ liệu vùng nguyên liệu ngày càng gắn chặt với yêu cầu truy xuất của chuỗi cung ứng gỗ xuất khẩu.

Cuộc cạnh tranh không còn bắt đầu từ giá bán

Xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ tiếp tục giữ nhịp trong những tháng đầu năm 2026. Theo số liệu của Cục Hải quan, 5 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu ngành này đạt trên 7 tỷ USD, tăng 2,9% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả này cho thấy sức chống chịu của một ngành xuất khẩu chủ lực giữa những biến động của thị trường thế giới.

Tuy nhiên, phía sau tăng trưởng kim ngạch, tiêu chí lựa chọn nhà cung cấp của khách hàng quốc tế đang thay đổi khá nhanh. Trước đây, giá bán, chất lượng và thời gian giao hàng thường là những yếu tố được đặt lên bàn đàm phán đầu tiên; nay, khách hàng muốn biết gỗ được khai thác từ đâu, khu rừng được quản lý theo phương thức nào, nhà máy sử dụng loại năng lượng gì và doanh nghiệp có đủ dữ liệu để chứng minh những thông tin đã cung cấp hay không.

Hành trình phía sau một chiếc bàn, chiếc ghế hay tủ gỗ vì thế được xem xét kỹ hơn trước.

Sự thay đổi diễn ra khi các nền kinh tế lớn gia tăng yêu cầu đối với sản phẩm bền vững và chuỗi cung ứng minh bạch. Tại Liên minh châu Âu, Quy định chống phá rừng của EU (EUDR), trong đó gỗ và nhiều sản phẩm từ gỗ thuộc phạm vi điều chỉnh, đặt ra yêu cầu về truy xuất, thẩm tra và chứng minh hàng hóa không liên quan đến mất rừng. Cùng lúc, các tập đoàn, nhà bán lẻ và thương hiệu quốc tế cũng tăng yêu cầu về môi trường, phát thải đối với nhà cung cấp.

Với ngành gỗ, cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu đang vượt ra ngoài bài toán giá thành.

Carbon đi vào chuỗi cung ứng

Dấu chân carbon của sản phẩm phản ánh lượng khí nhà kính phát sinh trực tiếp và gián tiếp trong vòng đời sản phẩm, quy đổi về CO2 tương đương theo ranh giới tính toán được xác định.

Đối với sản phẩm gỗ, phát thải có thể hình thành từ vùng nguyên liệu, hoạt động khai thác, quãng đường vận chuyển tới nhà máy, điện năng cho dây chuyền sản xuất, nhiên liệu sử dụng trong quá trình sấy, vật liệu sơn phủ, bao bì, kho vận và hành trình đưa hàng tới thị trường tiêu thụ.

Bởi vậy, hai chiếc bàn có hình dáng, chất lượng và công năng tương đương chưa chắc có cùng một “hồ sơ xanh”. Sản phẩm sử dụng gỗ có chứng chỉ, được sản xuất với mức tiêu hao năng lượng thấp hơn, tận dụng phụ phẩm và có dữ liệu phát thải rõ ràng sẽ tạo ra khác biệt khi khách hàng đánh giá chuỗi cung ứng.

Yêu cầu này ngày càng rõ khi các tập đoàn và nhà bán lẻ quốc tế phải kiểm soát tác động môi trường từ hoạt động của nhà cung cấp. Với doanh nghiệp gỗ Việt Nam, lợi ích của giảm phát thải chưa chắc thể hiện ngay bằng giá bán cao hơn, nhưng khả năng cung cấp dữ liệu và đáp ứng tiêu chí môi trường có thể ảnh hưởng tới cơ hội tham gia chuỗi cung ứng, duy trì khách hàng hoặc giành đơn hàng mới.

Nếu hai doanh nghiệp có giá và chất lượng tương đương nhưng một bên đã có dữ liệu phát thải, trong khi bên còn lại chưa thể cung cấp, vị thế trên bàn đàm phán khó còn giống nhau.

Dữ liệu trở thành một phần của sản phẩm

Những yêu cầu mới của thị trường đang đưa quản trị dữ liệu trở thành một nội dung quan trọng trong quá trình chuyển đổi của doanh nghiệp gỗ.

Chia sẻ với báo chí về quá trình thay đổi tại Công ty Lâm Việt, ông Nguyễn Liêm cho biết, sau khi đầu tư phần mềm quản trị, lực lượng quản lý của doanh nghiệp giảm từ 90 người xuống còn 30 người. Theo ông Liêm, giá trị lớn hơn việc tiết giảm chi phí nhân sự là lãnh đạo có dữ liệu để hoạch định chiến lược và xây dựng kế hoạch sản xuất.

Đến năm 2025, ông Nguyễn Liêm tiếp tục đề xuất triển khai mô hình “nhà máy gỗ phát thải thấp”, thí điểm đo, giảm phát thải CO2 và hướng tới chứng nhận low-carbon.

Câu chuyện tại Lâm Việt cho thấy, muốn tính toán phát thải, doanh nghiệp trước hết phải nắm được dữ liệu sản xuất. Trong một nhà máy, hóa đơn điện có thể nằm ở bộ phận kế toán, lượng nhiên liệu do bộ phận sản xuất theo dõi, thông tin nguyên liệu được quản lý tại kho, dữ liệu vận chuyển thuộc bộ phận logistics, trong khi sản lượng từng dòng sản phẩm lại nằm trên một hệ thống khác. Khi dữ liệu tồn tại rời rạc, việc xác định lượng phát thải của từng sản phẩm trở nên khó khăn.

Kết quả kiểm kê tại hơn 10 doanh nghiệp chế biến đồ gỗ được công bố tại một hội thảo của Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP.HCM cho thấy, phát thải từ tiêu thụ điện năng có thể chiếm tới 90% tổng phát thải tại các doanh nghiệp được khảo sát.

Từ dữ liệu tiêu thụ điện, hiệu suất thiết bị và từng công đoạn sản xuất, doanh nghiệp có thể nhận diện khu vực tiêu hao năng lượng lớn để lựa chọn phương án đầu tư phù hợp. Việc đo lường giúp doanh nghiệp tránh triển khai giải pháp xanh dàn trải, đồng thời xác định khoản đầu tư có khả năng giảm cả chi phí và lượng phát thải.

Dữ liệu sản xuất vì thế đang mang thêm giá trị khi doanh nghiệp tham gia những chuỗi cung ứng có yêu cầu về carbon.

Giảm phát thải để giữ đơn hàng

Với ngành gỗ, yêu cầu về dữ liệu không dừng ở cổng nhà máy. Khi truy xuất nguồn gốc ngày càng chặt chẽ, thông tin từ vùng nguyên liệu đang trở thành một phần quan trọng trong hồ sơ sản phẩm.

Lô gỗ được khai thác ở đâu, chủ rừng là ai, thời điểm khai thác, phương thức quản lý và hành trình tới nhà máy ra sao là những thông tin ngày càng được quan tâm trong chuỗi cung ứng quốc tế. Doanh nghiệp có vùng nguyên liệu liên kết ổn định, sử dụng gỗ hợp pháp và hệ thống truy xuất rõ ràng sẽ thuận lợi hơn khi khách hàng yêu cầu chứng minh nguồn gốc; ngược lại, chuỗi nguyên liệu qua nhiều tầng trung gian và dữ liệu phân tán có thể làm tăng chi phí xác minh.

Bài toán liên kết giữa doanh nghiệp chế biến và chủ rừng vì vậy không còn chỉ nằm ở bảo đảm nguồn cung. Mỗi mét khối gỗ đưa vào nhà máy đang cần một “lý lịch” rõ hơn trước.

Ở khâu sản xuất, doanh nghiệp cũng tìm kiếm nhiều giải pháp kiểm soát tiêu thụ năng lượng, từ tận dụng phụ phẩm làm sinh khối, quản lý điện theo từng công đoạn đến nâng hiệu suất thiết bị và tối ưu quá trình sản xuất. Tuy nhiên, áp dụng giải pháp xanh và chứng minh hiệu quả của những giải pháp ấy là hai vấn đề khác nhau. Nếu thiếu hệ thống đo lường, kết quả tiết kiệm năng lượng hoặc giảm phát thải rất khó chuyển thành dữ liệu phục vụ yêu cầu của khách hàng.

Bên cạnh năng lực đo lường, vốn đầu tư đang là một điểm nghẽn. Ông Nguyễn Chánh Phương, Phó Chủ tịch Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP.HCM, từng nhận định doanh nghiệp đã thấy lợi ích dài hạn của việc giảm phát thải, song nguồn vốn cho phát triển xanh còn “căng thẳng”. Báo cáo ESG có thể tạo lợi thế trong tiếp cận vốn, nhưng việc xây dựng hệ thống này cần thời gian và phần lớn doanh nghiệp ngành gỗ mới đang thực hiện hoặc bắt đầu tham gia.

Áp lực càng rõ với doanh nghiệp vừa và nhỏ. Trong khi doanh nghiệp lớn có khả năng thuê tư vấn, xây dựng bộ phận phát triển bền vững và đầu tư hệ thống quản lý, doanh nghiệp quy mô nhỏ phải cân nhắc chi phí kiểm kê khí nhà kính, tính toán dấu chân carbon, đào tạo nhân lực và duy trì các chứng chỉ quốc tế.

Nếu từng doanh nghiệp phải tự tìm hiểu tiêu chuẩn, xây dựng phương pháp đo lường và tổ chức dữ liệu, khoảng cách về năng lực đáp ứng thị trường giữa các nhóm doanh nghiệp sẽ ngày càng lớn. Ngành gỗ vì thế cần hướng dẫn đo lường phù hợp với quy mô doanh nghiệp, nguồn nhân lực tư vấn và cơ chế tài chính hỗ trợ đầu tư tiết kiệm năng lượng, công nghệ sạch. Việc kết nối dữ liệu từ rừng trồng, khai thác, vận chuyển đến chế biến cũng cần được thúc đẩy nhằm giảm chi phí xác minh.

Đáp ứng các yêu cầu xanh chắc chắn phát sinh chi phí, nhưng chậm thích ứng cũng mang theo rủi ro mất thị trường. Khi lựa chọn nhà cung cấp, khả năng chứng minh nguồn gốc nguyên liệu, cung cấp dữ liệu phát thải và thể hiện lộ trình giảm carbon đang trở thành một cơ sở để khách hàng đánh giá doanh nghiệp.

Lợi thế này có thể chưa chuyển ngay thành giá bán cao hơn, nhưng có khả năng ảnh hưởng tới việc doanh nghiệp được lựa chọn cho đơn hàng tiếp theo hay tiếp tục nằm trong danh sách nhà cung cấp của những khách hàng lớn.

Ngành gỗ Việt Nam đã xây dựng sức cạnh tranh bằng tay nghề, chi phí sản xuất và khả năng đáp ứng các đơn hàng quy mô lớn. Những yếu tố đó vẫn cần thiết, song thị trường xuất khẩu đang bổ sung thêm các tiêu chí về nguồn gốc và phát thải.

Doanh nghiệp giờ đây không chỉ cần biết một chiếc bàn làm ra hết bao nhiêu gỗ, bao nhiêu điện và bao nhiêu chi phí, mà còn phải từng bước trả lời được lượng carbon phát sinh trong hành trình đưa sản phẩm tới khách hàng.

Khi dữ liệu ấy ngày càng được quan tâm trong chuỗi cung ứng, dấu chân carbon đang trở thành một yếu tố mới trong năng lực cạnh tranh của gỗ xuất khẩu Việt Nam.

Tiến Thanh