17:06 03/09/2024

Thị trường vốn đã quay về đúng quỹ đạo?

Tính đến cuối tháng 8, tăng trưởng tín dụng đạt 6,63%, tương đương gần 14,5 triệu tỷ đồng từ hệ thống ngân hàng đã được đưa vào nền kinh tế. Tuy nhiên, trong bối cảnh thị trường vốn đang bị thu hẹp, các chỉ tiêu phát triển thị trường trái phiếu và thị trường bảo hiểm khó đạt mục tiêu như trong nghị quyết đề ra.

Tăng huy động vốn cho nhu cầu cuối năm

8 tháng đầu năm, các doanh nghiệp ở lĩnh vực sản xuất kinh doanh đã đẩy mạnh vay vốn ngân hàng để mở rộng sản xuất, đáp ứng các đơn hàng. Điều này giúp không ít ngân hàng hiện đã có mức tăng trưởng tín dụng lên đến 15%, cao gấp đôi mức bình quân toàn ngành. Nhiều giải pháp tăng cung ứng vốn đã được hệ thống ngân hàng áp dụng để nâng cao năng lực tài chính đáp ứng nhu cầu tín dụng tăng cao dịp cuối năm.

Theo công ty dữ liệu tài chính Wigroup, các ngành sản xuất như nguyên vật liệu, hàng tiêu dùng và công nghiệp đã vay thêm gần 35.000 tỷ đồng trong 8 tháng qua. Nhu cầu mở rộng kinh doanh tăng là điều dễ hiểu khi chỉ số nhà quản trị mua hàng PMI ngành sản xuất của Việt Nam đã có nhiều tháng tăng liên tiếp.

Thị trường vốn đã quay về đúng quỹ đạo
Ngân hàng Nhà nước sẽ tự động nới hạn mức tăng trưởng tín dụng đối với những ngân hàng đạt từ 80% chỉ tiêu đã phân bổ hồi đầu năm nay. Ảnh minh họa.

Ông Đỗ Bảo Ngọc - Phó Tổng Giám đốc Công ty Chứng khoán Kiến Thiết cho biết: "Chỉ số PMI 3 tháng liên tiếp đều ở mức 52, 53, 54, đây là mức cao và ghi nhận mức hồi phục mạnh so với cùng kỳ. Rõ ràng sản xuất, tiêu dùng, thương mại trong nước đang hồi phục tích cực và là yếu tố chính giúp cầu tín dụng gia tăng".

Tính đến cuối tháng 8, tăng trưởng tín dụng đạt 6,63%, tương đương gần 14,5 triệu tỷ đồng từ hệ thống ngân hàng đã được đưa vào nền kinh tế. Để đạt mục tiêu cả năm tăng trưởng 15% thì lượng vốn ròng có thể tiếp tục cấp ra là thêm 1,13 triệu tỷ đồng.

Ngân hàng Nhà nước sẽ tự động nới hạn mức tăng trưởng tín dụng đối với những ngân hàng đạt từ 80% chỉ tiêu đã phân bổ hồi đầu năm nay. Ngoài ra, các ngân hàng có mức tăng trưởng cao còn gia tăng thêm nguồn vốn từ các kênh khác như chia cổ tức, phát hành cổ phiếu hay huy động thêm dòng vốn ngoại có lãi suất thấp.

Nhu cầu tín dụng của các doanh nghiệp cũng đang dịch chuyển từ vay ngắn hạn sang vay trung và dài hạn, nên ngoài việc thu hút tiền gửi của người dân và doanh nghiệp, một số ngân hàng còn huy động thêm nguồn vốn dài hạn từ các giấy tờ có giá khác.

Tính đến hết tháng 8 các ngân hàng cũng đã phát hành gần 180.000 tỷ đồng trái phiếu doanh nghiệp. Gia tăng nguồn vốn trung và dài hạn không chỉ giúp các ngân hàng đáp ứng nhu cầu tín dụng tăng cao dịp cuối năm, mà còn đáp ứng các yêu cầu về an toàn vốn cho chính ngân hàng.

Khó đạt mục tiêu đề ra

Thị trường vốn những năm gần đây phát triển chưa đạt kỳ vọng, nhiều mục tiêu đề ra trong Nghị quyết số 39 còn xa tầm với. Thực tế này không chỉ dồn áp lực, gây rủi ro đối với hệ thống ngân hàng, mà còn phân tán nguồn lực, khó đáp ứng nhu cầu vốn trung, dài hạn của doanh nghiệp và nền kinh tế...

Một trong những mục tiêu củng cố nguồn tài lực đặt ra tại Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 15/1/2019 của Bộ Chính trị về nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác, sử dụng và phát huy các nguồn lực của nền kinh tế (Nghị quyết số 39) đó là đến năm 2025 dư nợ thị trường trái phiếu đạt 55% GDP, tới năm 2035 đạt 70% GDP cùng nguồn vốn huy động cho nền kinh tế của các doanh nghiệp bảo hiểm chiếm 20-30% tổng nguồn vốn đầu tư dài hạn.

Tuy nhiên, trong bối cảnh thị trường vốn đang bị thu hẹp, các chỉ tiêu phát triển thị trường trái phiếu và thị trường bảo hiểm khó đạt mục tiêu như trong nghị quyết đề ra.

Về cơ cấu các nguồn vốn cho nền kinh tế, thống kê của Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV cho thấy tỷ trọng dòng vốn tín dụng tăng lên rõ rệt, từ mức 40,71% (năm 2019) tăng lên 53,54% (6 tháng đầu năm 2024).

Trong khi đó, thị trường cổ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp xoay xở để cầm chừng, chỉ cung ứng lần lượt 0,75% và 8% tổng lượng vốn cho nền kinh tế trong nửa đầu năm 2024, sụt giảm lần lượt từ mức 3,1% và 12,28% trong năm 2019. Lĩnh vực bảo hiểm cũng hụt hơi, trái ngược so với thời kỳ tăng trưởng doanh thu phí ở mức hai con số nhiều năm trước đó.

Thị trường vốn đã quay về đúng quỹ đạo

Chia sẻ tại hội thảo “Phát huy và nâng cao hiệu quả các nguồn lực tài chính phát triển kinh tế đất nước trong bối cảnh mới” do Vụ Kinh tế tổng hợp (Ban Kinh tế Trung ương) phối hợp với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức, ông Nguyễn Như Quỳnh, Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách tài chính (Bộ Tài chính), cho rằng để cân bằng giữa thị trường vốn và thị trường tiền tệ, tín dụng, cần một tầm nhìn dài hạn.

Hiện nay dư nợ tín dụng tại Việt Nam khoảng 130-133% GDP, vấn đề này từng được Ngân hàng Thế giới (WB) cảnh báo và khuyến nghị Việt Nam cần giảm tỷ lệ này.

Cũng theo đại diện Ngân hàng Nhà nước, đặc trưng của nền kinh tế Việt Nam hiện phụ thuộc chủ yếu vào vốn tín dụng ngân hàng. Tỷ lệ tín dụng/GDP của Việt Nam có xu hướng tăng và ở mức cao, tiềm ẩn rủi ro đối với hệ thống các tổ chức tín dụng. Với quy mô tín dụng năm 2023 đạt hơn 13,5 triệu tỷ đồng, tỷ lệ tín dụng/GDP năm 2023 đạt khoảng 130%, Việt Nam thuộc nhóm các quốc gia có tỷ lệ này ở mức cao.

Nguồn cung vốn trung, dài hạn cho nền kinh tế chưa phát triển tương xứng và còn nhiều vấn đề nên các nguồn lực trong nền kinh tế chưa được huy động hiệu quả, khiến nhu cầu vốn cho phục hồi tăng trưởng kinh tế tập trung phần lớn vào tín dụng ngân hàng.

Do đó, đại diện Ngân hàng Nhà nước cho rằng cần tiếp tục hoàn thiện thể chế để phát triển đồng bộ thị trường vốn - tài chính, gồm thị trường chứng khoán, thị trường trái phiếu doanh nghiệp, thị trường bảo hiểm để cải thiện, tăng cường nguồn vốn trung và dài hạn, huy động nguồn lực từ trong dân nhằm phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, giảm bớt gánh nặng vốn trung và dài hạn cho ngành ngân hàng.

Làm rõ sự phát triển của những “chân kiềng” chính trên thị trường vốn, ông Nguyễn Như Quỳnh cho biết với thị trường trái phiếu, đến cuối năm 2023, thị trường có 460 mã trái phiếu niêm yết với giá trị niêm yết đạt hơn 2.030 nghìn tỷ đồng, tăng 16,5% so với năm 2022, tương đương 20% GDP. Thị trường trái phiếu chính phủ mỗi năm huy động khoảng 300.000 tỷ đồng, với kỳ hạn dài, lãi suất khoảng 2,7-3%/năm và hiện vẫn còn dư địa, có thể huy động thêm.

Với thị trường trái phiếu doanh nghiệp, một nguồn vốn trung và dài hạn quan trọng với nền kinh tế, theo ông Nguyễn Như Quỳnh, thị trường tăng trưởng nhanh giúp thu hẹp quy mô thị trường vốn và tín dụng ngân hàng. Tuy nhiên, sau giai đoạn bùng nổ và đạt khối lượng phát hành kỷ lục vào năm 2021 với hơn 740 nghìn tỷ đồng, năm 2022 và 2023, thị trường chứng kiến sự biến động rất mạnh. Khối lượng trái phiếu phát hành sụt giảm và hoạt động mua lại trái phiếu trước hạn gia tăng, nhiều vấn đề nảy sinh do doanh nghiệp phát hành không trả được nợ, áp lực đáo hạn.

Về thị trường bảo hiểm, theo báo cáo của Viện Chiến lược và Chính sách tài chính, tính đến ngày 31/12/2023, thị trường bảo hiểm có 82 doanh nghiệp và gia tăng về số lượng doanh nghiệp so với năm 2019 (67 doanh nghiệp). Năm 2023, thị trường bảo hiểm đạt được một số kết quả khả quan khi tổng tài sản đạt 913.308 tỷ đồng, tăng 11,12% so với cùng kỳ năm 2022 và gấp 2 lần so với năm 2019; số tiền đầu tư trở lại nền kinh tế đạt 762.580 tỷ đồng, tăng 12,78%  so với cùng kỳ năm 2022.

Theo đánh giá, hệ thống quản trị rủi ro tại các doanh nghiệp bảo hiểm chưa hoàn thiện dẫn đến tình trạng doanh nghiệp không kịp thời phát hiện rủi ro phát sinh từ hoạt động nghiệp vụ, hoạt động tài chính. Hoạt động phân phối bảo hiểm qua đại lý tổ chức chưa được chuẩn hóa, chất lượng đại lý bảo hiểm chưa cao dẫn đến sự thiếu chuyên nghiệp trong hoạt động cung cấp dịch vụ bảo hiểm nhân thọ.

“Cơ cấu sản phẩm của các doanh nghiệp bảo hiểm chưa đa dạng, chỉ tập trung vào một số nghiệp vụ nhất định, chủ yếu là sản phẩm bảo hiểm liên kết đầu tư. Các sản phẩm có ý nghĩa an sinh xã hội như bảo hiểm vi mô, bảo hiểm hưu trí tự nguyện chưa được quan tâm, phát triển đúng mức”, đại diện Bộ Tài chính nhận định.

Nhìn nhận vướng mắc trong lĩnh vực bảo hiểm, bà Nguyễn Hoài Thu, Tổng Giám đốc Khối đầu tư chứng khoán của VinaCapital, cho rằng mức độ xâm nhập của bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam còn thấp so với khu vực. Gần đây, ngành bảo hiểm trải qua cuộc khủng hoảng khiến hai năm vừa qua tốc độ tăng trưởng chậm lại, thậm chí về không. Điều này cho thấy muốn phát triển thị trường bảo hiểm như một kênh dẫn vốn gián tiếp cần phải có cơ chế quản lý, tránh khủng hoảng tương tự trong tương lai.

Cũng theo bà Thu, quỹ hưu trí tự nguyện tại Việt Nam mới manh nha phát triển, trong khi tại các nước phát triển như Mỹ, quy mô quỹ có thể lên tới 140% GDP, Anh là 83% GDP, Singapore là 86% GDP.

Theo quy định, quỹ hưu trí tự nguyện phải đầu tư tối thiểu 50% vào trái phiếu chính phủ, đây là một rào cản trong quá trình vận hành quỹ, chưa kể lợi tức đang ở mức thấp kỷ lục.

Nhiều quy định khác về rút trước hạn, miễn thuế tối đa 1 triệu đồng/tháng với người lao động tham gia các sản phẩm hưu trí tự nguyện, cũng phải sửa đổi để hợp với thời cuộc, giúp khơi thông nguồn lực từ quỹ hưu trí tự nguyện.

Hồng Quang