Mức độ nhận biết về các chương trình hỗ trợ còn thấp và các thủ tục rườm rà kèm theo là hai cản trở chính trong việc tiếp cận hỗ trợ từ nhà nước đối với doanh nghiệp trong giai đoạn dịch Covid-19.
Tuy đã có cải thiện nhưng mức độ nhận biết về các chính sách hỗ trợ của nhà nước vẫn còn thấp. Nguồn: WB
Ngân hàng thế giới (WB) vừa công bố kết quả điều tra đợt 2 về tác động của đại dịch Covid-19 lên doanh nghiệp Việt Nam được thực hiện trong tháng 9 và tháng 10/2020 nhằm đánh giá hiện trạng hồi phục của kinh tế Việt Nam.Trước đó, điều tra đợt 1 đã được WB thực hiện vào tháng 6/2020.
60% doanh nghiệp khó tiếp cận vốn
Kết quả điều tra cho thấy, tỷ lệ các doanh nghiệp nhận được sự hỗ trợ từ chính phủ tăng mạnh (10%) kể từ tháng 6/2020. Hình thức hỗ trợ chủ yếu mà các doanh nghiệp nhận được là giãn thời hạn nộp thuế và các khoản khác (chiếm 17% số doanh nghiệp). Các doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp ngành công nghiệp chế tạo dễ tiếp cận hơn, trong đó các doanh nghiệp trong ngành nông nghiệp có tỷlệ tiếp cận cao hơn hẳn.
Trước đó, kết quả điều tra hồi tháng 6 đã cho thấy, chỉ có khoảng 20-30% doanh nghiệp tiếp cận được với hỗ trợ của Chính phủ, Đối với doanh nghiệp không nhận được hỗ trợ, nguyên nhân quan trọng nhất là không đủ điều kiện và không biết về chính sách hỗ trợ.
Trong đợt điều tra thứ 2, kết quả cho thấy, hai cản trở chính trong tiếp cận hỗ trợ của nhà nước là mức độ nhận biết về chương trình hỗ trợ này còn thấp và các thủ tục rườm rà kèm theo. Tuy nhiên trong giai đoạn kể từ sau tháng 6, mức độ nhận biết của các doanh nghiệp đã có sự cải thiện. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng không nhận được hỗ trợ từ nhà nước đều giống nhau trong các doanh nghiệp thuộc các ngành và quy mô khác nhau.
Về tiếp cận tín dụng và thanh khoản, trong bối cảnh mức cầu thấp hơn bình thường thanh khoản trở thành vấn đề thường xuyên, tuy đã có một số cải thiện. Khoảng một nửa số doanh nghiệp có đủ thanh khoản cho 3 tháng, và khoảng 60% có đủ thanh khoản cho 6 tháng. Đối với các doanh nghiệp dịch vụ khác (tức là dịch vụ nhưng không thuộc khối bán buôn, bán lẻ) thì thanh khoản là vấn đề nghiêm trọng nhất.
Tiếp cận nguồn tài chính vốn là vấn đề trầm kha tại Việt Nam, trở nên trầm trọng hơn nhất là khi doanh nghiệp đồng thời gặp khó khăn về thanh khoản. Kết quả điều tra cho thấy, trên 60% doanh nghiệp cho biết họ gặp khó khăn trong tiếp cận nguồn tài chính. Các vấn đề chính bao gồm lãi suất quá cao, rủi ro trả nợ, và thiếu tài sản thế chấp.
Các doanh nghiệp lớn không gặp khó khăn về tiếp cận tài chính nhưng các doanh nghiệp SME gặp khó khăn về tài sản thế chấp. Lãi suất và rủi ro trả nợ là vấn đề chung mà tất cả các doanh nghiệp đều gặp phải. Các doanh nghiệp bị sụt giảm doanh thu thường gặp khó khăn hơn khi muốn tiếp cận tín dụng.
Tâm lý vẫn bi quan
Theo báo cáo của WB, có 94% số doanh nghiệp đã hoạt động trở lại. Trong đó, nhóm dịch vụ có tốc độ mở cửa trở lại cao hơn một chút so với các nhóm khác, nhưng đây cũng là nhóm có tỷ lệ đóng cửa một phần hoặc toàn bộ cao nhất hồi tháng 6. Mặc dù hầu hết các doanh nghiệp đã hoạt động trở lại, song nhiều doanh nghiệp vẫn hoạt động dưới công suất (dưới mức trước đại dịch). Khoảng ¼ số doanh nghiệp vẫn phải cắt giảm giờ làm việc. Tính trung bình, số giờ hoạt động của các doanh nghiệp thấp hơn 6,7% so với cùng kỳ năm ngoái.
Khoảng 2/3 số doanh nghiệp bị giảm doanh số bán hàng trong giai đoạn tháng 9-10; tuy nhiên tình hình cũng đã cải thiện hơn hồi tháng 6. Tuy doanh số liên tục cải thiện nhưng vẫn thấp hơn 36% so với cùng kỳ.
Tình trạng cắt giảm lao động cũngđã giảm nhẹ,nhưng hiện trạng việc làm nói chung vẫn không cải thiện so với tháng 6. Các doanh nghiệp vẫn phải áp dụng các biện pháp tạm thời như cho nghỉ phép, giảm lương, giảm giờ làỉ. Tuy vậy, tỷ lệ số doanh nghiệp phải dùng đến các biện pháp này đã giảm mạnh. Khoảng 10% doanh nghiệp vẫn phải sa thải lao động nhưng các doanh nghiệp khác, với tỷ lệ tương tự, cũng tuyển lao động mới dẫn đến tình hình chung là tổng số việc làm ổn định trong giai đoạn tháng 9- 10.
Mặc dù doanh số có vẻ lạc quan hơn phần nào kể từ tháng 6 nhưng các doanh nghiệp vẫn có tâm lý bi quan về viễn cảnh 6 tháng sắp tới. Hầu hết các doanh nghiệp đều cho rằng doanh số và việc làm sẽ giảm trong 6 tháng tới, trung bình ở mức giảm 11-51% về doanh số và giảm 7-61% về việc làm.
Xuân Lâm