09:12 31/07/2025

Tín chỉ carbon, loại “tiền đặc biệt” mà Việt Nam đang nắm lợi thế

Tín chỉ carbon không chỉ là một công cụ môi trường, mà đang định hình như một loại “tiền tệ” trong hệ sinh thái tài chính toàn cầu. Với thế mạnh tự nhiên, nhân lực và tiềm năng hấp thụ carbon, Việt Nam đang đứng trước cơ hội vươn lên thành quốc gia chủ lực cung cấp tín chỉ carbon chất lượng.

Tín chỉ carbon – Tiền tệ đặc biệt

Tại diễn đàn Netzero Việt Nam 2025: Thị trường carbon trong kỷ nguyên mới, vị CEO của công ty ESGs & Climate Consulting đã nhận định: “Khi nhìn vào bức tranh toàn cầu, tôi nhận thấy rõ rằng, tín chỉ carbon đang dần trở thành một loại tiền tệ, một sản phẩm tài chính phái sinh đặc thù, giao thoa giữa bốn lĩnh vực tưởng chừng như ít khi gặp nhau (thiên nhiên, tài chính, tài sản quốc gia (đất đai) và chuyên môn, kiến thức, dữ liệu”.

Sự giao thoa này tạo ra một thị trường vừa đặc biệt vừa nhiều thách thức, nơi mỗi tín chỉ carbon không chỉ phản ánh một đơn vị khí nhà kính được giảm phát mà còn đại diện cho giá trị tài nguyên, trình độ khoa học, năng lực đo lường và cả mức độ cam kết của quốc gia.

Việt Nam, với lợi thế là một quốc gia có nền kinh tế nông nghiệp, độ phủ xanh cao, cộng đồng dân cư sống gần thiên nhiên, đang sở hữu những “tài sản nền” phù hợp để phát triển thị trường carbon.

Tín chỉ carbon “Tiền đặc biệt” Việt Nam đang có lợi thế
Tín chỉ carbon – Tiền tệ đặc biệt

Xét ở một khía cạnh khác cho thấy, Việt Nam quốc gia nông nghiệp với 92% nền tảng kinh tế đến từ các doanh nghiệp nhỏ và vừa, đồng nghĩa với việc kịch bản phát triển thị trường carbon tại Việt Nam sẽ khác biệt so với các quốc gia khác.

Theo vị CEO của công ty ESGs & Climate Consulting Palard nhấn mạnh: “Người Việt Nam rất giỏi toán, đây được xem là yếu tố then chốt trong việc đo đạc và xác minh tín chỉ carbon, giúp Việt Nam có tiềm năng vượt trội trong việc xây dựng hệ thống MRV đạt chuẩn quốc tế.”

Tuy nhiên, điều quan trọng được nữ CEO nhấn mạnh là không có việc ‘mua bán’ tín chỉ carbon theo nghĩa thông thường. Thay vào đó là quan điểm cùng nhau đầu tư vào những dự án có khả năng phát sinh tín chỉ carbon, giống như một trái phiếu vậy. Quá trình đồng hành đầu tư phát triển các dự án có thể có 2 khả năng: tránh phát thải carbon thông qua nỗ lực bổ sung hoặc hấp thụ, lưu trữ carbon tại nơi tín chỉ này vốn thuộc về, tức là dưới đất.

Tín chỉ carbon, lợi thế chiến lược của Việt Nam

Trên thị trường hiện có ba loại tín chỉ carbon là tín chỉ carbon trắng, tín chỉ carbon xanh lá cây và tín chỉ carbon xanh dương.

Theo phân tích của giới chuyên gia, tín chỉ carbon trắng xuất phát từ khả năng sáng tạo của con người thông qua các công nghệ tiên tiến để hút trực tiếp carbon từ khí quyển và lưu trữ trong nội thất hoặc các hình thức bền vững khác. Loại tín chỉ này dành cho những cá nhân, doanh nghiệp đầu tư vào phát triển công nghệ cao.

Tín chỉ carbon xanh lá cây tương tự nhưng thay cho máy móc là cây xanh và carbon này được lưu trữ lâu dài dưới đất. Khả năng lưu trữ càng cao, tín chỉ carbon càng có giá trị. Việt Nam có lợi thế ở dạng này, vậy nên tập trung thông qua việc bảo tồn rừng, trồng cây và thực hiện các nỗ lực để tăng khả năng hấp thụ carbon của cây xanh và rừng.

Cuối cùng là tín chỉ carbon xanh dương, xuất phát từ khả năng hấp thụ carbon mạnh mẽ của nước. Tuy nhiên, hạn chế là đo lường lượng carbon được hấp thụ trong môi trường nước còn nhiều thách thức.

Vẫn còn những rào cản phía trước

Theo chuyên gia, tiềm năng phát triển thị trường carbon tại Việt Nam là rất lớn, nhưng hiện trong giai đoạn định hình nền móng với hành lang pháp lý còn nhiều khoảng trống chưa được lấp đầy. Cách thiết lập các cơ chế phân bố hạn ngạch, tiêu chí lựa chọn ngành bắt buộc tham gia, điều kiện xác định tín chỉ hợp lệ vẫn cần được làm rõ. Đồng thời, tính khả thi trong kết nối thị trường carbon Việt Nam với quốc tế phụ thuộc vào chất lượng tín chỉ và độ tin cậy của hệ thống MRV.

Tín chỉ carbon “Tiền đặc biệt” Việt Nam đang có lợi thế
Tín chỉ carbon, lợi thế chiến lược của Việt Nam

Tuy nhiên, hệ thống MRV hiện chưa có quy trình đồng nhất về đo đạc, báo cáo, thẩm định khí nhà kính trên toàn quốc. Việt Nam còn thiếu công cụ số hóa gây khó khăn cho quản lý tín chỉ và hạn ngạch phát thải, đặc biệt khi số lượng giao dịch tăng cao.

Theo TS Nguyễn Tuấn Quang - Phó Cục trưởng Cục Biến đổi khí hậu chia sẻ về những hạn chế lớn hiện nay bao gồm: thiếu năng lực đo lường - báo cáo - thẩm định (MRV), nền tảng kỹ thuật còn yếu, thiếu liên kết thể chế và nhận thức hạn chế từ phía doanh nghiệp.

TS Nguyễn Đình Thọ - Phó Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường nhấn mạnh: Bên cạnh khung pháp lý, Việt Nam cần khẩn trương ban hành các hướng dẫn kỹ thuật chi tiết, củng cố năng lực quản lý và giám sát ở cấp địa phương, tổ chức các chương trình đào tạo chuyên môn cho doanh nghiệp và cán bộ thực thi. Đặc biệt, cần xây dựng mô hình sàn giao dịch carbon theo tiêu chuẩn quốc tế, bảo đảm tính công khai, minh bạch và hiệu quả.

Theo TS Thọ: “Nếu biết cách tận dụng các cơ hội từ thị trường carbon, kết nối giữa thị trường tự nguyện và thị trường tuân thủ, cũng như giữa thị trường nội địa và quốc tế theo Điều 6 của Thỏa thuận Paris, thì cơ hội tài chính cho doanh nghiệp Việt có thể tăng gấp 20-30 lần so với giá bán tín chỉ thông thường.”

Liên quan giao dịch tín chỉ carbon, TS Nguyễn Tuấn Quang đặc biệt lưu ý 2 vấn đề. Một là, mỗi loại tín chỉ carbon phải được tạo ra theo tiêu chuẩn và phương pháp tính toán cụ thể, thường được gọi là phương pháp tạo tín chỉ carbon; đảm bảo minh bạch và tuân thủ đúng quy định. Hai là, việc giao dịch các tín chỉ carbon bắt buộc phải có sự quản lý, điều tiết thống nhất của Nhà nước. Điều này giúp hạn chế việc tín chỉ bị bán ra nước ngoài không kiểm soát kiểm soát làm cho cam kết quốc gia về giảm phát thải sẽ không đạt được, trong khi thị trường trong nước cũng bị thiếu hụt nguồn cung tín chỉ cho các ngành đang cần thực hiện nghĩa vụ phát thải.

Theo McKinsey, thị trường tín chỉ carbon toàn cầu có thể đạt 250 tỷ USD vào 2030. Việt Nam có hơn 14,7 triệu ha rừng tự nhiên và trồng mới, tiềm năng hấp thụ CO₂ lớn nhất khu vực ASEAN. Chỉ riêng việc trồng rừng và phục hồi đất có thể tạo ra hàng triệu tín chỉ mỗi năm nếu được chuẩn hóa.

Hải Bình