Theo các chuyên gia, đề xuất của địa phương là xuất phát từ thực tế, nhưng việc phê duyệt thì phải dựa trên cơ sở khoa học và tiêu chí rõ ràng. Lợi ích của sân bay không chỉ dừng lại ở hiệu quả kinh tế khai thác sân bay, mà còn mang tới lợi ích gián tiếp về việc phát triển kinh tế xã hội.
Mạng lưới sân bay tại Việt Nam vẫn “mỏng”
Ngày 11/10, tại tọa đàm “Sân bay nhỏ cho kinh tế địa phương cất cánh”, các chuyên gja nhận định, đầu tư xây dựng cảng hàng không sẽ tạo ra động lực mới thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và đất nước, như phát biểu chỉ đạo của Phó Thủ tướng Lê Văn Thành tại cuộc họp với 15 tỉnh, thành phố có nhu cầu nâng cấp, mở rộng và xây dựng mới cảng hàng không hồi tháng 9 vừa qua.
Theo đó, về tiềm năng phát triển, theo đánh giá của IATA, Việt Nam đứng vị trí số 1 trong danh sách 25 nước có thị trường hàng không nội địa phục hồi nhanh nhất thế giới sau đại dịch, và tới năm 2035, hàng không Việt Nam sẽ phục vụ tới 136 triệu hành khách và đóng góp 23 tỷ USD vào GDP.
Theo đánh giá của cơ quan chức năng, nhu cầu giao thương và đi lại tăng rất mạnh sau đại dịch Covid-19. Điều đó cho thấy, nhu cầu phải nâng cấp các sân bay hiện hữu và đầu tư các sân bay mới đang trở thành vấn đề cấp bách.
Tới năm 2035, hàng không Việt Nam sẽ phục vụ tới 136 triệu hành khách, gấp đôi số lượng dự kiến cho cả năm 2022 là 70-80 triệu lượt hành khách.
Việc phân kỳ đầu tư sân bay đóng vai trò quyết định đến hiệu quả đầu tư trong trường hợp các cảng hàng không mới được bổ sung vào quy hoạch. (Ảnh: Baodautu.vn)
Trong khi đó, hiện Việt Nam có 22 cảng hàng không đang hoạt động, trong đó nhiều cảng hàng không đã phải khai thác vượt công suất công bố như tại các nhà ga hành khách nội địa sân bay Côn Đảo, Cát Bi, Phú Quốc, Liên Khương, Cam Ranh...
Trên cơ sở đó, các chuyên gia kinh tế cho rằng, bên cạnh sân bay lớn như Long Thành đang được khẩn trương thi công, Việt Nam cần có thêm các sân bay nhỏ. Các sân bay này ngoài phục vụ nhu cầu di chuyển hành khách và hàng hóa, còn là “bộ đệm” dự phòng cho các sân bay lớn, có ý nghĩa giúp thúc đẩy kinh tế địa phương, phục vụ an ninh quốc phòng cũng như thực hiện các chức năng khác nhằm hỗ trợ sản xuất lâm nghiệp, nông nghiệp, phòng chống cháy rừng…
Theo ông Nguyễn Văn Vịnh, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược Phát triển (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), việc phát triển thêm các sân bay nhỏ là cần thiết, nhất là trong bối cảnh mạng lưới sân bay tại Việt Nam vẫn được cho là “mỏng” hơn nhiều quốc gia trong khu vực và trên thế giới, trong khi đó, Việt Nam là một nền kinh tế mở, nhu cầu đi lại, giao thương đang ngày càng gia tăng.
Thêm các sân bay nhỏ để phát triển kinh tế địa phương
Chia sẻ về việc mở thêm các sân bay, ông Mick Werson, Chuyên gia Kinh tế trưởng NACO, công ty thuộc Tập đoàn Royal HaskoningDHV, mô hình hàng không hiện đại mà Việt Nam cần tính tới việc quy hoạch hệ thống sân bay sẽ gồm 3 lớp.
Trong đó, lớp trên cùng là các sân bay trung tâm lớn với lưu lượng hàng năm hơn 20 triệu lượt hành khách, xử lý phần lớn nhu cầu giao thông. Tầng thấp nhất là các sân bay địa phương (sân bay cấp 3) với ít hơn 1 triệu hành khách hàng năm. Và lớp ở giữa, còn được gọi là lớp cầu nối, giữ vai trò kết nối các sân bay trung tâm và sân bay địa phương.
Những sân bay này không chỉ có chức năng như một trạm “trung chuyển” trực tiếp cho các sân bay lớn trong mạng lưới tối ưu hóa vận tải mà còn là sân bay dự phòng chiến lược trong trường hợp các sân bay lớn bị quá tải.
“Nói cách khác, các sân bay trung tâm lớn không thể duy trì mạng lưới giá trị và lưu lượng giao thông vượt trội của chúng nếu không có các sân bay nhỏ”, đại diện NACO nhấn mạnh.
Mặc dù vậy, theo TS. Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, dự thảo Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống cảng hàng không toàn quốc thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn 2050 lại “chốt cứng” 28 cảng hàng không giai đoạn 2021 - 2030 và 31 cảng hàng không vào năm 2050.
“Nếu nhu cầu vượt quá con số trong quy hoạch thì tính “động” và “mở” của quy hoạch nên như thế nào?”, ông Cung đặt câu hỏi và cho rằng quy hoạch là cần thiết nhưng quan trọng là quy hoạch phải hợp lý nếu không sẽ là điểm nghẽn cản trở sự phát triển. Hơn nữa, việc điều chỉnh quy hoạch sẽ rất mất thời gian và làm lỡ cơ hội phát triển của địa phương.
“Theo đó nên cho phép địa phương có sáng kiến tốt hơn được chạy trước chứ không phải năm nay thì Lào Cai, năm sau mới đến Hà Giang hay Quảng Trị…”, ông Cung nêu quan điểm.
Quan trọng hơn, theo TS. Cung, trong quá trình đầu tư, xây dựng sân bay, cần cho phép sự tham gia của khu vực tư nhân thông qua môi trường pháp lý minh bạch, rõ ràng.
“Đừng nghĩ xây sân bay là phải Nhà nước. Nhà nước chỉ nên tập trung một số cái lớn thôi còn đâu phân cấp cho địa phương để họ chủ động bố trí vốn và huy động từ khu vực tư nhân. Tư nhân giờ không chỉ có vốn mà còn có kỹ năng quản trị, kinh doanh và tạo lập hệ sinh thái phát triển cho địa phương. Tư duy phải thay đổi thì mới tạo ra sự đột phá”, ông Cung kiến nghị.
Lợi ích của sân bay không chỉ dừng lại ở hiệu quả kinh tế khai thác sân bay, mà còn mang tới lợi ích gián tiếp về việc phát triển kinh tế xã hội. (Ảnh minh họa)
Nêu tầm quan trọng của sân bay nhỏ, TS. Trần Đình Thiên - nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, những thành công ban đầu tại Dự án Xây dựng cảng hàng không quốc tế Vân Đồn (Quảng Ninh) do Tập đoàn Sungroup đầu tư như một minh chứng cho hướng đi mới, thu hút đầu tư mang tính đột phá trong phát triển kết cấu hạ tầng giao thông nói chung, trong phát triển hạ tầng hàng không nói riêng.
“Từ trước đến nay, chúng ta luôn mặc định đầu tư hạ tầng hàng không luôn là lĩnh vực đặc thù, yêu cầu khắt khe về năng lực tài chính, kinh nghiệm, nhạy cảm về an ninh quốc phòng nên chỉ dành cho các doanh nghiệp quốc doanh. Tuy nhiên, sân bay Vân Đồn được triển khai nhanh, hiện đại và được vận hành đúng theo tiêu chuẩn quốc tế đã phá vỡ định kiến đó”, TS. Trần Đình Thiên cho biết.
Đồng quan điểm, ông Phan Đức Hiếu - Ủy viên thường trực Ủy ban Kinh tế Quốc hội cho rằng, đề xuất xây dựng sân bay của các địa phương là hoàn toàn chính đáng. Lợi ích của sân bay không chỉ dừng lại ở hiệu quả kinh tế khai thác sân bay, mà còn mang tới lợi ích gián tiếp về việc phát triển kinh tế xã hội.
“Khi quyết định đánh giá một dự án phát triển sân bay tại địa phương, chúng ta cần nhìn tổng thế theo hướng này. Tuy nhiên, các địa phương cũng cần tính toán kỹ càng bài toán phát triển sân bay để có mô hình khai thác càng rõ ràng và chi tiết càng tốt, bởi nó sẽ giảm tối đa những sai sót”, ông Hiếu nêu quan điểm.
PV