10:27 24/11/2025

Tỷ giá tăng mạnh, doanh nghiệp niêm yết chịu tác động thế nào?

Báo cáo của Mirae Asset Việt Nam cho thấy đợt tăng 3,2% của tỷ giá USD/VND từ đầu năm đến giữa tháng 11/2025 đang tạo ra những tác động trái chiều sâu sắc, khiến lợi nhuận doanh nghiệp niêm yết phân hóa mạnh giữa nhóm xuất khẩu, nhập khẩu và các doanh nghiệp vay USD.

Áp lực tỷ giá leo thang trong bối cảnh chính sách tiền tệ chênh lệch

Tính từ đầu năm đến nay, FED đã có 5 lần giữ nguyên lãi suất ở mức 4,5% và 2 lần giảm 25 điểm cơ bản vào cuộc họp 17/09/2025 và 29/10/2025. Nếu xét từ 2022, FED đã tăng lãi suất 11 lần và lãi suất hiện đang ở ngưỡng cao trong vòng 20 năm trở lại đây. Chênh lệch giữa chính sách giảm lãi suất của Việt Nam, và duy trì lãi suất cao của FED đã tạo ra một khoảng cách nhất định, khiến tỷ giá gia tăng.

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 9 của Mỹ được công bố tăng 0,3% so với tháng 8/2025, lạm phát tăng 3% so với cùng kỳ năm trước, cách xa so với mục tiêu 2% cho năm 2025 của FED. Điều này tạo áp lực khiến FED có thể phải duy trì mức lãi suất cao và làm chậm quyết định giảm lãi suất. Đồng thời, tạo áp lực khiến Chỉ số US Dollar Index (DXY) - đo lường biến động của đồng đô la Mỹ so với 6 đồng tiền chủ chốt, neo quanh vùng cao. Hiện chỉ số US Dollar Index (DXY) đang duy trì quanh ngưỡng 100 điểm.

Tỷ giá tăng mạnh doanh nghiệp niêm yết chịu tác động thế nào

Chênh lệch giữa chính sách giảm lãi suất của Việt Nam, và duy trì lãi suất cao của FED đã tạo ra một khoảng cách nhất định, khiến tỷ giá gia tăng. Dù hiện tại, lãi suất trong nước có xu hướng tăng nhẹ, nhưng nhìn chung Ngân hàng Nhà Nước vẫn giữ mục tiêu chính sách tiền tệ nới lỏng có kiểm soát nhằm hỗ trợ tăng trưởng. Điều này có thể sẽ gặp khó khăn trong thời gian tới trước áp lực tỷ giá.

Tuy nhiên, kỳ vọng FED sẽ tiếp tục cắt giảm lãi suất trong năm nay cũng như 2026, giúp thu hẹp chênh lệch lãi suất của Việt Nam và Mỹ tạo dư địa cho chính sách tiền tệ nới lỏng trong nước, nhằm đạt được những mục tiêu tăng trưởng hai chữ số mà vẫn duy trì ổn định tỷ giá.

Tỷ giá trung tâm giữa đồng Việt Nam (VND) và đô la Mỹ (USD) được Ngân hàng Nhà nước công bố 14/11/2025 ở mức 25.122 VND/USD, hiện đang quanh mức đỉnh cao nhất lịch sử. Áp dụng biên độ 5%, các ngân hàng thương mại được phép giao dịch với tỷ giá trần là 26.378 VND/USD và tỷ giá sàn là 23.866 VND/USD.

Tính từ 02/01/2025 đến 14/11/2025, tỷ giá trung tâm của NHNN đối với USD/VND tăng 3,2% và cao hơn 1,4% so với mức tăng 1,8% vào cùng thời điểm trong năm 2024. Đáng chú ý, điều này có thể tác động khiến hoạt động kinh doanh của một số doanh nghiệp vay USD, xuất nhập khẩu có thể ảnh hưởng, phần nào đã phản ánh vào doanh thu, chi phí tài chính trong ba quý đầu năm và sẽ tiếp tục thể hiện trong kết quả quý 4. 

Doanh nghiệp vay USD chịu sức ép lỗ tỷ giá và suy giảm lợi nhuận

Những doanh nghiệp có lượng vay ngoại tệ lớn là nhóm chịu ảnh hưởng mạnh nhất. Báo cáo dựa trên mức tăng 3,1% của tỷ giá bán USD tại Vietcombank đến ngày 27/10/2025 để ước tính tác động. Trong số này, VIC ghi nhận mức lỗ tỷ giá ước tính lên đến 2.430 tỷ đồng, tương đương 14,5% lợi nhuận trước thuế năm 2024. Các doanh nghiệp như POW, PC1, SBT, MSN và NKG cũng chứng kiến mức giảm lợi nhuận đáng kể, dao động từ 13% đến hơn 22%.

Tỷ giá tăng mạnh doanh nghiệp niêm yết chịu tác động thế nào

Các doanh nghiệp như PVD, MWG hay HPG có mức độ ảnh hưởng nhẹ hơn nhờ doanh thu bằng USD hoặc hoạt động xuất khẩu giúp bù đắp một phần. Với những doanh nghiệp đang có lợi nhuận rất thấp hoặc đang lỗ như NVL và PGV, tác động tỷ giá không phản ánh vào mức giảm lợi nhuận.

Tổng thể, nhóm vay USD là nhóm chịu thiệt hại lớn nhất khi chi phí đánh giá lại nợ vay phình to, đe dọa triển vọng lợi nhuận quý IV trong bối cảnh tỷ giá dự báo vẫn đi ngang ở mức cao.

Xuất khẩu ngược chiều hưởng lợi khi doanh thu USD quy đổi tăng giá

Trong khi nhóm vay USD đối mặt áp lực lớn, các doanh nghiệp xuất khẩu lại được hưởng lợi rõ rệt khi doanh thu bằng USD được quy đổi sang VND ở mức cao hơn.

Theo đánh giá, nhóm dệt may gồm TCM, MSH, STK và TNG dưới áp lực của tỷ giá sẽ nhận tác động 2 chiều, bởi phần lớn nhập khẩu nguyên liệu từ nước ngoài sau đó gia công xuất khẩu. Vì vậy, biến động tỷ giá sẽ ít làm thay đổi kết quả kinh doanh. Mức cải thiện lợi nhuận ấn tượng, từ 27% đến gần 80%, nhờ trị giá xuất khẩu tăng và chi phí nội địa được giữ ổn định.

Ngành thủy sản (VHC, MPC, IDI, …) hưởng lợi khi doanh nghiệp thủy sản phần lớn doanh thu đến từ hoạt động xuất khẩu, đồng thời chi phí nội địa và nợ vay bằng USD không lớn.

Gỗ (PTB, ACG…) doanh thu xuất khẩu cao, chi phí nội địa, nợ vay ngoại tệ thấp là nhóm hưởng lợi khá rõ khi USD tăng.

Tỷ giá tăng mạnh doanh nghiệp niêm yết chịu tác động thế nào

Ngành cao su, xăm lốp (DRC, CSM, …) thường nợ vay bằng USD không đáng kể và là những doanh nghiệp cao su xuất khẩu ròng, do đó hưởng lợi khi tỷ giá USD/VND tăng. Ngành thực phẩm (VNM) chủ yếu doanh thu nội địa, tỉ lệ doanh thu USD không lớn nên độ nhạy cảm với tỷ giá thấp. Có thể hưởng lợi nhẹ nếu có xuất khẩu hoặc nguồn ngoại tệ, nhưng rủi ro chính đến từ chi phí nguyên liệu nhập khẩu (nếu tỷ giá biến động mạnh).

Trong khi đó, nhóm Thép (NKG, HPG…) nhận tác động 2 chiều. NKG và HPG có giá trị xuất khẩu lớn chiếm lần lượt 65% và 31% trên tổng doanh thu nhưng cũng vay USD nhiều vì vậy mức hưởng lợi còn phụ thuộc cấu trúc tài chính từng doanh nghiệp.

Do tỷ lệ doanh thu USD cao hơn tỷ lệ chi phí USD, nhóm xuất khẩu là nhóm được hưởng lợi rõ nhất khi tỷ giá tăng, trái ngược hoàn toàn với nhóm vay nợ ngoại tệ.

Doanh nghiệp nhập khẩu đối mặt với chi phí đầu vào phình to và biên lợi nhuận thu hẹp

Ngược lại, khối doanh nghiệp phụ thuộc nguồn nguyên liệu nhập khẩu lại chịu ảnh hưởng tiêu cực khi giá vốn tăng nhanh theo tỷ giá. Báo cáo chỉ ra những doanh nghiệp như BMP, PLC và DHC chịu tác động đáng kể nhất do tỷ trọng nguyên liệu nhập khẩu lớn. Trong bối cảnh giá nguyên liệu thế giới chưa giảm, tác động kép từ giá và tỷ giá khiến biên lợi nhuận gộp có nguy cơ thu hẹp mạnh.

Tỷ giá tăng mạnh doanh nghiệp niêm yết chịu tác động thế nào

Một số doanh nghiệp như CSV chịu tác động nhẹ hơn do cơ cấu nguyên liệu linh hoạt hơn hoặc có khả năng điều chỉnh giá bán. Nhóm phân bón như DPM và DCM tuy có sử dụng ngoại tệ nhưng được bù đắp bởi doanh thu USD từ xuất khẩu, khiến tác động ròng ở mức thấp.

Nhìn chung, nhóm nhập khẩu là nhóm đối mặt rủi ro lớn nhất về giá vốn, đặc biệt nếu không thể chuyển phần chi phí tăng thêm vào giá bán.

Báo cáo của Mirae Asset Việt Nam kết luận rằng xu hướng phân hóa tác động từ tỷ giá sẽ duy trì rõ nét đến năm 2026. Nhóm xuất khẩu được dự báo tiếp tục ghi nhận lợi nhuận cải thiện trong môi trường tỷ giá cao, trong khi nhóm vay USD và nhập khẩu nguyên liệu vẫn chịu sức ép lên chi phí và biên lợi nhuận. Với triển vọng Fed duy trì mặt bằng lãi suất cao và tỷ giá trong nước tiếp tục biến động theo xu hướng tăng, tỷ giá sẽ tiếp tục là yếu tố quyết định tới lợi nhuận doanh nghiệp niêm yết trong năm tới.

Trung Anh