18:27 10/11/2025

Tín dụng lập đỉnh 5 năm, cảnh báo rủi ro lạm phát và tỷ giá

Nhìn vào dư nợ cho vay của các ngân hàng trong 9 tháng đầu năm có thể thấy, mục tiêu tăng trưởng tín dụng 18-20% trong năm 2025 hoàn toàn khả thi. Tuy nhiên, bước vào hai tháng cuối năm, ngành ngân hàng đối mặt với sức ép phải tiếp tục nới lỏng chính sách tiền tệ, duy trì mặt bằng lãi suất thấp trong khi áp lực lạm phát vẫn ở mức cao.

Tín dụng bứt phá, đạt đỉnh tăng trưởng 5 năm

Theo tổng hợp từ báo cáo tài chính quý III và 9 tháng năm 2025 của 27 ngân hàng niêm yết, tổng dư nợ cho vay khách hàng đã tăng 15% so với cuối năm 2024, đạt hơn 13,6 triệu tỷ đồng là mức tăng mạnh nhất trong 5 năm qua.

Trong đó, 22 ngân hàng ghi nhận tăng trưởng dư nợ trên 10%, còn lại bốn ngân hàng đạt mức tăng “một con số” gồm BIDV, ABBank, Viet A Bank (cùng khoảng 9%) và PGBank (7%). Duy nhất Saigonbank ghi nhận mức giảm 6%.

Nhóm ngân hàng có vốn Nhà nước tiếp tục giữ vai trò đầu tàu cung cấp vốn cho nền kinh tế. BIDV dẫn đầu với dư nợ cho vay vượt 2,23 triệu tỷ đồng, tăng 8,8% so với cuối năm 2024, tương đương hơn 180 nghìn tỷ đồng vốn mới được bơm ra thị trường. VietinBank đạt dư nợ gần 1,99 triệu tỷ đồng, tăng 15,6%, trong khi Vietcombank ghi nhận mức tăng 12,5%, lên 1,63 triệu tỷ đồng.

Ở khối ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân, MB đang nổi lên như “ngôi sao” tăng trưởng khi tổng dư nợ cho vay đạt gần 931,5 nghìn tỷ đồng, tăng gần 20% so với đầu năm. Tại một diễn đàn kinh tế cuối tuần qua, Tổng giám đốc MB, ông Phạm Như Ánh cho biết tăng trưởng tín dụng của MB năm 2025 có thể đạt từ 25–30%, tùy thuộc vào sức hấp thụ vốn của nền kinh tế trong hai tháng cuối năm. “Chúng tôi đặt mục tiêu đầy thách thức nhưng khả thi, khi các động lực từ mảng bán lẻ và SME đang phát huy hiệu quả rõ rệt”, ông nói.

Trong khi đó, VPBank tiếp tục thể hiện sức bật mạnh mẽ với mức tăng trưởng 29,4% trong 9 tháng đầu năm, nâng tổng dư nợ lên hơn 896,4 nghìn tỷ đồng. Techcombank, ACB, SHB và Sacombank cũng duy trì đà tăng hai chữ số; riêng Techcombank tăng 21,4%, SHB tăng 17%. Đáng chú ý, NCB ghi nhận bước nhảy vọt ngoạn mục khi tăng trưởng tín dụng đạt tới 33% – mức cao nhất trong toàn ngành.

Theo Báo cáo cập nhật kết quả kinh doanh quý III/2025 của Công ty Chứng khoán Rồng Việt (VDSC), tăng trưởng tín dụng toàn ngành từ đầu năm đạt 14,5%, chạm đỉnh trong vòng 5 năm trở lại đây. VDSC nhận định, sự phân hóa về tốc độ tăng trưởng tín dụng giữa các ngân hàng không còn quá rõ rệt như trước, khi nhiều nhà băng đã gần đạt hạn mức tín dụng được cấp từ đầu năm và dần chuyển hướng sang tối ưu hóa biên lợi nhuận thay vì chỉ mở rộng quy mô cho vay.

Nhờ vậy, thị phần tín dụng đang được phân bổ cân bằng hơn giữa nhóm ngân hàng quốc doanh và khối thương mại cổ phần lớn. VDSC cũng chỉ ra, cơ cấu tín dụng theo kỳ hạn trong 9 tháng đầu năm cho thấy các khoản vay trung và dài hạn tăng tích cực hơn so với ngắn hạn, phản ánh nhu cầu đầu tư, mở rộng sản xuất đang phục hồi rõ nét. Cùng với đó, việc các ngân hàng tái cơ cấu danh mục cho vay theo hướng kéo dài kỳ hạn đang giúp cải thiện lợi suất tài sản trong trung hạn, tạo nền tảng vững chắc cho tăng trưởng tín dụng bền vững trong thời gian tới.

Tăng trưởng tín dụng cao và áp lực với chính sách tiền tệ
Nhìn vào dư nợ cho vay của các ngân hàng trong 9 tháng có thể thấy khả năng tăng trưởng tín dụng 18-20% cho cả năm 2025 là hoàn toàn khả thi. 

Tăng trưởng phải đi cùng kiểm soát rủi ro

Bức tranh tăng trưởng tín dụng năm 2025 đang mở ra gam màu tươi sáng, khi khả năng đạt mức 18–20% cho cả năm được đánh giá là trong tầm tay. Tuy nhiên, theo giới chuyên gia, tốc độ mở rộng này chỉ thực sự có ý nghĩa khi đi kèm kỷ luật quản trị rủi ro nghiêm ngặt, tránh lặp lại vòng xoáy nợ xấu từng khiến hệ thống chao đảo.

Chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Thành, Giảng viên cao cấp Trường Chính sách công & Quản lý Fulbright, nhận định: để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP ít nhất 8% trong năm nay, tín dụng phải tăng khoảng 19–20%.

Điều này đồng nghĩa Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cần tiếp tục duy trì chính sách tiền tệ nới lỏng, bơm thêm vốn vào khu vực đầu tư nhưng bài toán đánh đổi là áp lực lạm phát và biến động tỷ giá ngày càng lớn. “Những thách thức này sẽ chưa dừng lại trong năm 2026, trong khi Việt Nam vẫn phải giữ mặt bằng lãi suất thấp để hỗ trợ phục hồi kinh tế”, ông Thành lưu ý.

Theo ông, hiện có ba lực đẩy chính khiến lãi suất thị trường chịu áp lực tăng: kỳ vọng lạm phát đang nhích lên, đồng Việt Nam mất giá, và tín dụng tăng nhanh hơn tốc độ cung tiền. Dù lạm phát năm 2025 vẫn ở mức thấp nhờ giá dầu hạ, nhưng năm tới sẽ là một thử thách khác. Bởi vậy, chính sách tiền tệ dù tiếp tục theo hướng mở rộng, cũng buộc phải thận trọng hơn, tránh làm nóng nền kinh tế quá mức.

Ông Thành cũng chỉ ra, tỷ giá đã chịu sức ép rõ rệt: “Theo tính toán của chúng tôi, trong 10 tháng đầu năm, VND mất giá 3,8% so với USD, khoảng 13% so với Euro, và bình quân giảm 5,1% so với rổ 14 đồng tiền của các đối tác thương mại lớn nhất.” Với bối cảnh này, hai tháng cuối năm sẽ là giai đoạn NHNN phải cân đối tinh tế vừa giữ lãi suất thấp để hỗ trợ doanh nghiệp, vừa đối mặt với rủi ro lạm phát cao và áp lực mất giá của tiền đồng.

“Nếu so với các đối tác lớn, Việt Nam đang có mức lạm phát cao nhất nhưng lãi suất lại thấp hơn, thậm chí ngang bằng Mỹ và thấp hơn Trung Quốc. Sự mất cân đối này khiến đồng nội tệ chịu sức ép, và việc duy trì lãi suất thấp quá lâu có thể phải trả giá bằng sự mất giá của VND”, ông Thành nhấn mạnh.

Cùng quan điểm thận trọng, TS. Nguyễn Tú Anh, Giám đốc Nghiên cứu Chính sách Trường Đại học VinUni, cho rằng: vốn vẫn là “chìa khóa vàng” để thúc đẩy tăng trưởng, bên cạnh các yếu tố nền tảng như lao động, khoa học, thể chế và môi trường đầu tư.

Ông giả định, nếu Việt Nam hướng tới mục tiêu tăng trưởng GDP 10% mỗi năm đến 2030, cộng thêm 3% lạm phát, tăng trưởng danh nghĩa sẽ đạt khoảng 13%. Khi đó, tín dụng cần tăng nhanh hơn GDP danh nghĩa ít nhất 3 điểm phần trăm – nghĩa là trong 5 năm tới, quy mô tín dụng của nền kinh tế phải tăng gấp đôi.

Ở góc nhìn ngân hàng, Tổng giám đốc Phạm Như Ánh cho biết MB đã xác định 50–60% dư địa tăng trưởng tín dụng năm 2026 sẽ được phân bổ cho khách hàng cá nhân và doanh nghiệp vừa – nhỏ, nhóm có biên lợi nhuận cao và rủi ro phân tán tốt hơn so với các doanh nghiệp lớn. Phần còn lại sẽ tập trung vào doanh nghiệp sản xuất và xuất nhập khẩu, những ngành đang hồi phục mạnh sau thời kỳ trầm lắng.

Đáng chú ý, MB cũng đang đầu tư mạnh cho hệ thống công nghệ, cho phép khách hàng xuất – nhập khẩu thực hiện giao dịch ngoại hối, mở LC hay giải ngân trực tuyến, không cần đến quầy giao dịch. Sự số hóa này không chỉ giúp doanh nghiệp tiết kiệm thời gian, chi phí mà còn giảm thiểu rủi ro vận hành, một bước đi thể hiện rõ tinh thần “tăng trưởng bền vững trong kiểm soát rủi ro”.

Bình Minh