Ủy ban Kinh tế đề nghị đánh giá rõ thực trạng sở hữu cổ phần tại các tổ chức tín dụng để xác định rõ mức độ, nguyên nhân của tình trạng sở hữu chéo để đề xuất giải pháp căn cơ, triệt để và xử lý được tình trạng sở hữu chéo hiện nay.
Xử lý triệt để tình trạng sở hữu chéo trong ngành ngân hàng
Sáng 5/6, tiếp tục Kỳ họp thứ năm, Quốc hội nghe tờ trình và báo cáo thẩm tra Dự án Luật tổ chức tín dụng (sửa đổi). Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội Vũ Hồng Thanh đã trình bày Báo cáo thẩm tra về dự án Luật Các tổ chức tín dụng sửa đổi. Theo đó, Ủy ban Kinh tế đề nghị làm rõ nhiều vấn đề.
Một trong những điểm mới đáng chú ý của dự án Luật Các tổ chức tín dụng (sửa đổi) vừa được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Nguyễn Thị Hồng trình bày trước Quốc hội tại phiên họp sáng 5/6 liên quan đến tỷ lệ sở hữu cổ phần tại tổ chức tín dụng.
Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Vũ Hồng Thanh trình bày báo cáo thẩm tra.
Về vấn đề này, Ủy ban Kinh tế đề nghị làm rõ hơn cơ sở đề xuất các tỷ lệ như tại dự thảo Luật; đánh giá rõ thực trạng sở hữu cổ phần tại các tổ chức tín dụng để xác định rõ mức độ, nguyên nhân của tình trạng sở hữu chéo để đề xuất giải pháp căn cơ, triệt để và xử lý được tình trạng sở hữu chéo hiện nay.
Đồng thời, bổ sung đánh giá tác động của các quy định đối với các cổ đông hiện hữu, nhất là cổ đông chiến lược nước ngoài sẽ phải giảm tỷ lệ sở hữu cổ phần sau khi luật có hiệu lực; tác động đến thị trường chứng khoán.
"Có ý kiến đề nghị quy định tại dự thảo Luật lộ trình phù hợp để các cổ đông hiện hữu thực hiện thoái vốn hoặc quy định không áp dụng hồi tố để bảo đảm lợi ích nhà đầu tư", ông Vũ Hồng Thanh cho biết.
Về ngân hàng chính sách, Ủy ban Kinh tế cũng đề nghị cần tiếp tục nghiên cứu, bổ sung các nguyên tắc như mục tiêu, mô hình hoạt động, quản trị, điều hành, cơ chế quản lý tài chính, các chỉ tiêu an toàn vốn, tổ chức lại, giải thể...; rà soát các quy định tại các luật có liên quan, bảo đảm không vướng mắc và đủ căn cứ pháp lý khi triển khai thực hiện.
Đồng thời, Ủy ban Kinh tế cho rằng, cần làm rõ vai trò, trách nhiệm của cơ quan quản lý Nhà nước; việc xử lý trong trường hợp khẩn cấp hoặc gặp khó khăn về thanh khoản. Trong dài hạn, cần nghiên cứu xây dựng luật riêng điều chỉnh loại hình ngân hàng chính sách.
Về giới hạn cấp tín dụng, Ủy ban Kinh tế đề nghị cân nhắc việc sửa đổi các giới hạn cấp tín dụng. Bởi vì, việc giảm tổng mức dư nợ cấp tín dụng sẽ tác động ngay đến nguồn vốn cung ứng cho nền kinh tế, nhất là trong bối cảnh thị trường chứng khoán, thị trường trái phiếu doanh nghiệp chưa thực sự là kênh huy động vốn ổn định cho nền kinh tế và còn nhiều rủi ro; có thể tác động tiêu cực đến thu hút FDI của Việt Nam do giảm khả năng vay trong nước…
Toàn cảnh phiên họp Quốc hội sáng 5/6. (Ảnh Quochoi.vn)
Đề nghị chỉ ngân hàng bị rút tiền hàng loạt mới được vay lãi suất 0%
Một trong những điểm mới, nhưng khiến cơ quan thẩm tra còn nhiều lo ngại ngay từ khi thẩm tra sơ bộ là bổ sung quy định tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà nước can thiệp sớm.
Theo đó, dự thảo Luật cho phép sử dụng cho vay đặc biệt ngay từ bước can thiệp sớm, đồng thời mở rộng thêm một số khái niệm như cho vay không có tài sản bảo đảm, chỉ định cho vay đặc biệt; ấn định lãi suất cho vay đặc biệt là 0%/năm và cơ chế hỗ trợ cho tổ chức tín dụng cho vay đặc biệt.
Cụ thể, ngân hàng thuộc trường hợp can thiệp sớm khi bị rút tiền hàng loạt dẫn tới mất khả năng chi trả, hoặc tổ chức tín dụng không duy trì được tỷ lệ chi trả và an toàn vốn lần lượt trong 3 và 6 tháng liên tục, có lỗ lũy kế lớn hơn 20% giá trị vốn điều lệ cùng các quỹ dự trữ.
Một trong những biện pháp áp dụng với nhóm này là cho vay đặc biệt, không cần tài sản đảm bảo, lãi suất 0% một năm từ Ngân hàng Nhà nước, Bảo hiểm Tiền gửi và các nhà băng khác.
Ủy ban Kinh tế cho rằng, Ngân hàng Nhà nước với vai trò là người cho vay cuối cùng thực hiện cho vay đặc biệt là cần thiết để bảo đảm tính thanh khoản, mục tiêu an toàn hệ thống, ngăn chặn sự cố rút tiền hàng loạt, ổn định an ninh, trật tự an toàn xã hội.
“Tuy nhiên, cần rà soát các trường hợp được tiếp cận khoản vay đặc biệt theo hướng chỉ áp dụng trong trường hợp có sự cố rút tiền hàng loạt hoặc trong trường hợp có nguy cơ đổ vỡ ảnh hưởng đến an toàn hệ thống ngân hàng, gây bất ổn xã hội và Ngân hàng Nhà nước phải chịu trách nhiệm với quyết định cho vay đặc biệt, các giải pháp hỗ trợ tổ chức tín dụng gặp khó khăn, mặc dù không sử dụng ngân sách nhà nước, nhưng gián tiếp ảnh hưởng đến ngân sách”, cơ quan thẩm tra nhấn mạnh.
Cơ quan thẩm tra cũng chỉ rõ, dự thảo Luật chưa quy định cụ thể về thời gian áp dụng biện pháp can thiệp sớm, nên khó xác định được thời gian của khoản cho vay đặc biệt.
Đối với các chủ thể cho vay đặc biệt được bổ sung thêm so với Luật hiện hành gồm Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam, tổ chức tín dụng, Ủy ban Kinh tế cho rằng, mặc dù nguồn vốn cho vay đặc biệt không phải từ ngân sách nhà nước nhưng trong trường hợp của Bảo hiểm Tiền gửi Việt Nam và Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam là nguồn thu từ đóng phí, đóng quỹ của hội viên.
Theo Ủy ban Kinh tế, việc huy động nguồn này sẽ gây ảnh hưởng đến quyền lợi của các hội viên trong trường hợp cần phải sử dụng cho các trường hợp cần thiết theo quy định cũng như an toàn tài chính của các quỹ này., không hợp lý, không bảo đảm các nguyên tắc kế toán, đồng thời không làm rõ được trách nhiệm thu hồi khoản vay của các chủ thể cho vay, không nâng cao trách nhiệm của tổ chức tín dụng trong xử lý yếu kém.
Ủy ban Kinh tế đề nghị không quy định việc xử lý số tiền cho vay đặc biệt như trên.
Có ý kiến cho rằng, Bảo hiểm Tiền gửi Việt Nam không nên sử dụng nguồn vốn của mình ngoài mục đích chi trả cho người gửi tiền được bảo hiểm trong trường hợp ngân hàng đổ vỡ.
Chủ nhiệm Vũ Hồng Thanh đề nghị rà soát lại toàn bộ các quy định về can thiệp sớm theo hướng hạn chế tối đa sự hỗ trợ của Nhà nước hoặc phải có điều kiện rất cụ thể, đặc biệt là các giải pháp hỗ trợ vay tiền từ Ngân hàng Nhà nước, Ngân hàng Hợp tác xã, Bảo hiểm Tiền gửi Việt Nam, tổ chức tín dụng với lãi suất 0% và việc cho vay đặc biệt không có tài sản đảm bảo; cân nhắc không sử dụng nguồn cho vay đặc biệt từ Ngân hàng Hợp tác xã, Bảo hiểm Tiền gửi Việt Nam và tổ chức tín dụng.
Về phương án chuyển giao bắt buộc ngân hàng thương mại được kiểm soát đặc biệt, Ủy ban Kinh tế đề nghị báo cáo rõ thêm về tình hình xử lý các tổ chức tín dụng mua bắt buộc và đặt vào kiểm soát đặc biệt trong thời gian qua (bao gồm cả việc kiểm soát đặc biệt các quỹ tín dụng nhân dân).
Làm rõ các nguyên nhân của việc chậm trễ trong quá trình triển khai xử lý các ngân hàng mua bắt buộc và ngân hàng đặt vào kiểm soát đặc biệt; lý do chưa đề xuất những biện pháp mạnh như giải thể, phá sản, dẫn đến quy mô huy động vốn trong cư dân ngày càng lớn, tác động càng nhiều đến an toàn hệ thống, Nhà nước phải can thiệp. Từ đó có cơ sở xem xét sự phù hợp của các giải pháp đưa ra đối với các tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt.
Đề nghị chỉ ngân hàng bị rút tiền hàng loạt mới được vay lãi suất 0%. (Ảnh minh họa)
Xác định thứ tự ưu tiên khi xử lý tài sản đảm bảo
Thu giữ, xử lý tài sản bảo đảm (TSĐB) là một nội dung trong Luật Các tổ chức tín dụng (sửa đổi) cũng đã được cơ quan thẩm tra xem xét, đánh giá kỹ lưỡng.
Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Vũ Hồng Thanh cho biết, thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm (Điều 187 dự thảo luật) đã có sự điều chỉnh so với nội dung của Nghị quyết số 42 (về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng). Theo đó, số tiền thu hồi từ việc xử lý TSBĐ sau khi trừ đi chi phí bảo quản, thu giữ và chi phí xử lý TSBĐ được thực hiện theo thứ tự: các khoản án phí trực tiếp liên quan đến việc xử lý TSBĐ đó, thuế trực tiếp liên quan đến việc chuyển nhượng chính TSBĐ đó gồm thuế thu nhập cá nhân, lệ phí trước bạ.
Xếp thứ 2 trong thứ tự ưu tiên là thanh toán cho nghĩa vụ nợ. Khoản 1, Khoản 2 Điều 185 dự thảo luật quy định: “Bên mua khoản nợ có nguồn gốc từ khoản nợ xấu của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài mà tài sản bảo đảm của khoản nợ đó là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất hoặc tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai được quyền nhận thế chấp, đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất, tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai là tài sản bảo đảm của khoản nợ đã mua”; “Bên mua khoản nợ có nguồn gốc từ khoản nợ xấu của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài mà tài sản bảo đảm của khoản nợ đó là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất hoặc tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai được kế thừa quyền và nghĩa vụ của bên nhận thế chấp”.
Theo quy định của Luật Đất đai năm 2013, người sử dụng đất là tổ chức, người Việt Nam định cư ở nước ngoài chỉ được thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam (Điểm d Khoản 2 Điều 174, Điểm b Khoản 1 Điều 175, Điểm b Khoản 2 Điều 183); theo quy định của Luật Nhà ở năm 2014, chủ sở hữu nhà ở là tổ chức chỉ được thế chấp nhà ở tại tổ chức tín dụng đang hoạt động tại Việt Nam (Khoản 1 Điều 144).
Xếp thứ 3 là các nghĩa vụ án phí, thuế khác.
Thứ 4 là nghĩa vụ khác không có bảo đảm của bên bảo đảm. Trường hợp một tài sản được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ thì thứ tự ưu tiên thanh toán giữa các bên cùng nhận bảo đảm thực hiện theo quy định của pháp luật.
Nhiều ý kiến trong Ủy ban Kinh tế cho rằng, quy định như dự thảo luật chưa rõ nghĩa vụ nộp án phí, thuế đối với trường hợp một tài sản được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ hoặc trong trường hợp chủ nợ bị giải thể, phá sản. Do vậy, về thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý TSBĐ, cơ quan thẩm tra đề nghị bổ sung vào dự thảo luật việc ưu tiên nộp các khoản án phí và thuế liên quan trực tiếp đến TSBĐ, kể cả trong trường hợp tài sản đó được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ theo quy định tại Điều 308 Bộ luật Dân sự. Trường hợp chủ nợ bị giải thể, phá sản, thứ tự phân chia tài sản thực hiện theo quy định tại Điều 100 và Điều 101 của Luật Phá sản.
Nhìn tổng thể, cơ quan thẩm tra cho rằng, còn nhiều nội dung về ngân hàng chính sách, tập đoàn tài chính, vấn đề luật hóa Nghị quyết số 42, vấn đề tài chính, hạch toán, báo cáo… hay vấn đề về can thiệp sớm , kiểm soát đặc biệt, chuyển giao bắt buộc, phá sản tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt đều là những vấn đề quan trọng, cốt lõi của dự án Luật nhưng còn chưa đủ cụ thể, chưa phù hợp cần phải tiếp tục được hoàn thiện.
Vì vậy, Ủy ban Kinh tế báo cáo Quốc hội xem xét, cân nhắc thông qua dự án luật theo quy trình 3 kỳ họp, ông Thanh nhấn mạnh.
Hồng Quang