09:33 08/09/2024

Vật lộn để tồn tại giữa làn sóng hàng nhập khẩu giá rẻ từ Trung Quốc

Các ngành công nghiệp địa phương, từ tài xế xe tải của Thái Lan đến các nhà bán lẻ của Malaysia đều đang cảm thấy áp lực từ hàng hóa giá rẻ của Trung Quốc. Trên khắp Đông Nam Á, làn sóng hàng nhập khẩu giá rẻ từ Trung Quốc đang tràn ngập, gây ra sự tàn phá và tình trạng thất nghiệp gia tăng.

Vật lộn để tồn tại giữa làn sóng hàng nhập khẩu giá rẻ từ Trung Quốc
Nhiều sản phẩm đồng hộ giá rẻ được đưa vào Thái Lan bằng con đường bất hợp pháp đã bị cơ quan chức năng nước này thu giữ và tiêu huỷ

Một nửa số nhà máy gốm sứ ở tỉnh Lampang, phía bắc Thái Lan đã đóng cửa. Tại Indonesia , hàng nghìn công nhân dệt may đã mất việc. Trong khi đó, các nhà sản xuất ở Malaysia cho biết chính phủ đang nỗ lực nhằm ngăn chặn làn sóng này, với mức thuế 10% ít ỏi đối với thương mại điện tử đã bảo vệ họ khỏi cơn lũ hàng giá rẻ đến từ Trung Quốc.

Đối với Meelarp Tangsuwana, người đã thành lập nhà máy gốm sứ của mình cách đây 35 năm, những con số này không hợp lý. Công ty của ông, giống như nhiều công ty khác ở Lampang, sản xuất bát đựng súp được vẽ tay, được chế tác tỉ mỉ và bán với giá 18 baht (53 xu Mỹ) cho mỗi chiếc tại các quầy hàng thực phẩm trên khắp Thái Lan và nhiều nơi khác. Tuy nhiên, các đối thủ cạnh tranh Trung Quốc đang tràn ngập thị trường với những chiếc bát giống hệt nhau, nhưng chỉ với mức giá 8 baht.

Chia sẻ với tờ Bưu điên điện Hoa nam buổi sáng (SCMP), ông Meelarp Tangsuwana nói: "Tôi không hiểu làm sao có thể giảm chi phí xuống mức thấp như vậy".

Sự tuyệt vọng của Meelarp cũng đang lan tỏa khắp khu vực, nơi các nhà sản xuất hàng dệt may, mỹ phẩm, đồ điện tử và đồ dùng nhà bếp thấy mình bị các nhà sản xuất Trung Quốc vượt mặt, với chuỗi cung ứng tự động hóa cao và nỗ lực không ngừng tìm kiếm thị trường mới đang định hình lại bối cảnh cạnh tranh.

Ông Muhammad Zulfikar Rakhmat, giám đốc bộ phận Trung Quốc-Indonesia của Trung tâm nghiên cứu kinh tế và luật pháp có trụ sở tại Jakarta, cho biết: "Khi các thị trường phương Tây ngày càng khó tiếp cận với hàng hóa Trung Quốc, Đông Nam Á ngày càng trở thành trọng tâm xuất khẩu của Trung Quốc".

Làn sóng hàng hóa Trung Quốc ồ ạt đổ bộ Đông Nam Á đã được hỗ trợ bởi thị trường thương mại điện tử lớn nhất thế giới, cũng như các tuyến đường sắt mới và các cảng được nâng cấp giúp hợp lý hóa khâu hậu cần. Kèm đó là một mạng lưới phức tạp các hiệp định thương mại tự do, từ Khu vực thương mại tự do ASEAN đến Đối tác kinh tế toàn diện khu vực đang mở đường cho các sản phẩm Trung Quốc thâm nhập vào thị trường địa phương.

Giáo sư kinh tế tại Đại học Sunway của Malaysia Yeah Kim Leng giải thích, rằng: “Các nhà sản xuất Trung Quốc vượt trội về quy mô kinh tế và “đáp ứng nhu cầu về sản phẩm tiêu dùng trên các nền tảng thương mại điện tử”.

Nhưng điều này không mang lại nhiều an ủi cho Meelarp, ​​người lo ngại cho tương lai của gốm sứ Thái Lan và vô số các doanh nghiệp vừa và nhỏ khác.

Nếu không có hành động quyết liệt từ chính phủ Thái Lan - chẳng hạn như áp dụng thuế quan, hạn chế tình trạng bán phá giá hàng hóa Trung Quốc ế ẩm và trấn áp các hoạt động bất hợp pháp - những người thợ thủ công này có thể không còn nơi nào để đi.

“Giờ đây, chính phủ phải có trách nhiệm bảo vệ chúng tôi và nghề thủ công của chúng tôi,” Meerlap nói, đó cũng như lời kêu gọi phản ánh hy vọng của nhiều thương nhân khác ở Đông Nam Á.

“… họ đến đây để giết chết doanh nghiệp của chúng tôi”!

Lo ngại trước tốc độ đóng cửa doanh nghiệp nhanh chóng, chính phủ mới của Thái Lan đang có lập trường cứng rắn hơn sau nhiều năm thúc đẩy quan hệ với đối tác thương mại lớn nhất thông qua tiếp cận thị trường qua lại, đầu tư hậu cần và các thỏa thuận miễn thị thực.

Kể từ khi đại dịch xảy ra, các công ty Trung Quốc đã thổi luồng sinh khí mới vào một số bộ phận của nền kinh tế trì trệ của Thái Lan. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng đất nước này, giống như nhiều quốc gia thành viên khác của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á hiện phải cân bằng tinh tế giữa việc bảo vệ doanh nghiệp của mình và tuân thủ các thỏa thuận thương mại mà họ đã tự nguyện ký kết.

Vào thứ Tư tuần trước, Bộ trưởng Thương mại Thái Lan đã cam kết giải quyết tình trạng hàng hóa nhập khẩu trái phép tràn vào và hỗ trợ các doanh nghiệp địa phương đang chịu sự cạnh tranh gay gắt từ các đối thủ giá rẻ.

Các nền tảng thương mại điện tử như Temu đang bị giám sát chặt chẽ vì vai trò của họ trong việc làm tràn ngập thị trường bằng các sản phẩm giá rẻ, nền tảng này có thể sớm bị yêu cầu phải đăng ký hoạt động tại địa phương và phải đối mặt với mức thuế suất cao hơn.

Vào cuối tháng 8, người con gái Paetongtharn của cựu Thủ tướng Thaksin Shinawatra hiện đang lãnh đạo đất nước, đã kêu gọi "những bước nhỏ của chủ nghĩa bảo hộ" để chống lại sự tràn ngập hàng hóa giá rẻ của Trung Quốc. Nhưng đối với nhiều người Thái đang phải vật lộn để tồn tại, những biện pháp này có vẻ đã quá hạn từ lâu. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ của đất nước, hoạt động với biên lợi nhuận cực kỳ mỏng, đang gánh chịu hậu quả nặng nề nhất.

Chia sẻ với SCMP, ông Thongyu Khongkan, Chủ tịch liên đoàn vận tải đường bộ Thái Lan, cho rằng: “Họ không đến đây để buôn bán với chúng tôi… họ đến đây để giết chết doanh nghiệp của chúng tôi”. Sự thất vọng của ông Khongkan được nhiều người đồng tình, đặc biệt là trong bối cảnh thương mại giữa Thái Lan và Trung Quốc đạt mức đáng kinh ngạc, đạt 105,1 tỷ đô la Mỹ từ tháng 1 đến tháng 10 năm ngoái.

Khi ngày càng có nhiều báo cáo về việc các công ty Thái Lan phải đóng cửa trong cuộc chiến giá cả, đại sứ quán Trung Quốc tại Bangkok đã phản hồi bằng một tuyên bố dài trên mạng xã hội.

“Trung Quốc và Thái Lan là những người hàng xóm tốt, chúng tôi như gia đình. Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Thái Lan và chúng tôi cũng là thị trường xuất khẩu nông sản lớn nhất của Thái Lan. Trong vài năm qua, Trung Quốc đã nhập khẩu hơn 40% tổng lượng nông sản xuất khẩu của Thái Lan”, đại sứ quán Trung Quốc viết trên trang Facebook của mình.

“Về mặt hàng giá rẻ, hầu hết là các sản phẩm hàng ngày, thực phẩm, đồ chăm sóc sức khỏe, đồ trang sức, quần áo – chúng thậm chí không chiếm tới 10% hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc, chúng cũng chỉ có giá trị bằng một nửa sản phẩm nông nghiệp mà Thái Lan xuất khẩu sang Trung Quốc”.

Đại sứ quán cho biết chính phủ Trung Quốc đã kêu gọi người dân và các doanh nghiệp của mình tuân thủ các quy định của các quốc gia khác và "khuyến khích chính phủ Thái Lan thực thi luật pháp rất nghiêm ngặt", hứa hẹn hỗ trợ sử dụng các nền tảng thương mại điện tử mới và nắm bắt "cơ hội của kỷ nguyên internet".

Nhưng các cuộc đột kích gần đây của cảnh sát tại Bangkok và thu giữ hàng triệu baht mỹ phẩm nhập lậu và các mặt hàng khác, lại vẽ nên một bức tranh khác. Chính quyền đã bắt giữ một phụ nữ Trung Quốc, người được cho là chỉ là phần nổi của tảng băng chìm khổng lồ về các doanh nghiệp tội phạm khai thác lỗ hổng và thuê người Thái Lan để điều hành các doanh nghiệp Trung Quốc tràn ngập thị trường bằng các sản phẩm nhập lậu.

Để ứng phó, một số người tiêu dùng Thái Lan đang tham gia các chiến dịch “mua hàng nội địa” tập trung vào hàng hóa Trung Quốc dường như đang được bán phá giá trên thị trường.

Tuy nhiên, ông Thongyu cảnh báo rằng các lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế Thái Lan, đặc biệt là mảng hậu cần đã rơi vào tay Trung Quốc, với cái gọi là “vận tải không đô la”. Thuật ngữ này mô tả một nền kinh tế tuần hoàn trong đó các công ty bình phong của Trung Quốc trả tiền cho các nhà cung cấp Trung Quốc, thường sử dụng các khoản tiền không bị đánh thuế, có khả năng là bất hợp pháp để vận chuyển hàng hóa bằng xe tải do Trung Quốc sở hữu.

“Tôi từng chạy xe tải chở sầu riêng sang Lào với giá 80.000 baht (2.330 đô la Mỹ), nhưng các công ty Trung Quốc đang hạ giá xuống còn 30.000 baht một chuyến, điều mà các doanh nghiệp Thái Lan không thể làm được”, ông Thongyu cho biết. Không chỉ vậy, “trong khi người Thái phải trả 250 baht một mét vuông cho không gian kho bãi, các công ty Trung Quốc chỉ cung cấp với giá 70 baht”.

Cũng theo Chủ tịch liên đoàn vận tải đường bộ Thái Lan, nhiều công ty hậu cần Thái Lan hoạt động không có lãi đang bị mua lại và chuyển đổi thành bình phong cho các chủ sở hữu mới người Trung Quốc, cho phép các hoạt động trốn thuế và lẫn tránh sự giám sát của cơ quan quản lý.

Thông tin với SCMP, một cựu tài xế xe tải người Thái, có tên Pinij Srianchalee, cho rằng: “họ đang thông đồng và ấn định giá, ép chúng ta cho đến khi chúng ta không thể tồn tại được nữa”.

Các lỗ hổng pháp lý cũng cho phép các nhà đầu tư nước ngoài tăng dần cổ phần của họ trong các doanh nghiệp địa phương hoặc nhập khẩu hàng hóa theo các hiệp định thương mại để lắp ráp tại các công ty không phải của Thái Lan. Tác động này là thảm khốc đối với nhiều công ty hậu cần của Thái Lan.

Pinij Srianchalee, 56 tuổi, là một trong số hàng ngàn người bị buộc phải nghỉ việc vì cuộc chiến giá cả không ngừng nghỉ này. Trong một thập kỷ qua, anh đã điều hành một chiếc xe tải làm mát vận chuyển sầu riêng và măng cụt từ trung tâm trái cây Chantaburi của Thái Lan đến Boten ở biên giới Lào. Chuyến đi khứ hồi kéo dài 48 giờ đã mang lại cho Pinij 3.800 đến 4.500 đô la Mỹ, với container chứa đầy hàng hóa Trung Quốc được chuyển đến Thái Lan.

Năm ngoái, Trung Quốc đã nhập khẩu khoảng 1,43 triệu tấn sầu riêng tươi, tăng 70% so với năm trước, trong đó Thái Lan cung cấp 929.000 tấn.

Tuy nhiên, khi “vận tải không đô la” trở nên phổ biến trong vài năm qua, Pinij thấy thu nhập của mình đã giảm một nửa. “Nó thấp đến mức tôi thậm chí không nghĩ bất kỳ ai có thể hoạt động ở mức giá đó có thể kiếm được bất cứ thứ gì về mặt lợi nhuận”, ông Pinij nói.

“Họ đang thông đồng và ấn định giá, ép chúng tôi cho đến khi chúng tôi không thể tồn tại được nữa”, Pinij nói. “Một khi chúng tôi biến mất, các công ty Trung Quốc sẽ kiểm soát toàn bộ chuỗi cung ứng”.

Vật lộn để tồn tại giữa làn sóng hàng nhập khẩu giá rẻ từ Trung Quốc
Nhiều sản phẩm thủ công truyền thống của Thái Lan không thể cạnh tranh về giá so với các mặt hàng cùng loại nhập khẩu từ Trung Quốc

Cuộc tấn công từ thương mại điện tử

Trong nỗ lực hạn chế dòng sản phẩm giá rẻ của Trung Quốc tràn vào, chính phủ Malaysia đã áp dụng mức thuế 10% đối với hàng hóa nhập khẩu có giá trị 500 ringgit (115 đô la Mỹ) trở xuống vào tháng 1.

Nhưng các nhà bán lẻ cho rằng biện pháp này là không đủ vì họ phải chịu mất tới 30% doanh số vào tay các doanh nghiệp trực tuyến vận chuyển hàng hóa trực tiếp từ Trung Quốc.

“Tôi rất thất vọng với chính phủ Malaysia”, ông Ameer Ali Mydin, phó chủ tịch Hiệp hội các nhà bán lẻ Malaysia, cho biết: “Vì chúng tôi không thắt chặt bất kỳ quy định hay luật lệ nào, nên Malaysia đã trở thành bãi rác cho công suất dư thừa từ Trung Quốc”.

Trong 15 năm liên tiếp, Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Malaysia, chỉ riêng trong năm nay, nước này đã xuất khẩu 259 tỷ ringgit (59 tỷ đô la Mỹ) hàng hóa, từ đồ điện tử đến máy móc.

Trong khi đó, theo báo cáo tháng 4 của công ty dữ liệu và phân tích GlobalData, lĩnh vực thương mại điện tử dự kiến ​​sẽ tăng trưởng 12,8%, đạt giá trị 50,3 tỷ ringgit khi người tiêu dùng ngày càng chuyển sang mua sắm trực tuyến.

Giáo sư kinh tế Malaysia, ông Yeah Kim Leng, cho biết các nhà xuất khẩu Trung Quốc đang tích cực nhắm mục tiêu vào Đông Nam Á do nhu cầu trong nước suy yếu và rào cản thương mại gia tăng tại thị trường Hoa Kỳ và châu Âu.

Chia sẻ với This Week in Asia, ông Yeah cho rằng: "Những công ty tận dụng được chi phí và khả năng cạnh tranh của các nhà sản xuất Trung Quốc có thể tồn tại, nếu không muốn nói là phát triển, trong bối cảnh động lực thay đổi do hội nhập kinh tế thông qua thương mại và đầu tư xuyên biên giới gây ra".

Tuy nhiên, Phó chủ tịch Hiệp hội các nhà bán lẻ Malaysia, ông Ameer cho biết việc vận chuyển trực tiếp ra nước ngoài đã có tác động “to lớn” đến các ngành công nghiệp địa phương. Ông Ameer cũng ủng hộ việc áp dụng mức thuế cố định lên tới 20% đối với tất cả các giao dịch mua hàng trực tuyến ở nước ngoài để cân bằng sân chơi.

Theo ông Ameer, bán lẻ truyền thống tạo ra lợi ích lan tỏa đáng kể cho các doanh nghiệp địa phương khác như nhà hàng và rạp chiếu phim, vì người mua sắm thường tham gia vào các hoạt động khác khi ra khỏi nhà.

“Khi mọi người lên mạng để mua sắm, điều này không chỉ ảnh hưởng đến các nhà bán lẻ Malaysia bán cùng một mặt hàng mà còn ảnh hưởng đến các nhà sản xuất, đơn vị vận chuyển địa phương… nó ảnh hưởng đến mọi thứ.

“Tôi không có ý phản đối việc mọi người mua hàng trực tuyến, nhưng tôi nghĩ mọi người nên mua… từ các công ty được thành lập hoặc hoạt động tại Malaysia”, ông Ameer chia sẻ.

Đổi mới hoặc chết

Vào tháng 7, công nhân ngành dệt may Indonesia đã xuống đường ở Jakarta, yêu cầu được hỗ trợ khi họ mất thị phần vào tay hàng may mặc và dệt may Trung Quốc đang phát triển mạnh trên các nền tảng thương mại điện tử như Shopee, Lazada và TikTok Shop.

Theo Liên đoàn Công đoàn Nusantara, ít nhất 12 nhà máy đã đóng cửa từ tháng 1 đến tháng 7 năm nay, khiến hơn 13.000 người mất việc làm.

Các cuộc biểu tình đã thúc đẩy chính phủ áp dụng mức thuế nhập khẩu mới từ 100 đến 200% đối với một số hàng hóa nhất định từ Trung Quốc, bao gồm hàng dệt may, quần áo, giày dép, gốm sứ và đồ điện tử.

Hồi tháng 7, Bộ trưởng Thương mại Indonesia, ông Zulkifli Hasan, cho biết: "Hoa Kỳ có thể áp thuế 200% đối với đồ gốm sứ hoặc quần áo nhập khẩu, vì vậy chúng tôi cũng có thể làm như vậy". Đồng thời, ông cũng cảnh báo rằng nếu đất nước tiếp tục “ngập tràn hàng nhập khẩu”, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể phải đối mặt với nguy cơ sụp đổ.

Dữ liệu của chính phủ Indonesia, cho thấy các doanh nghiệp như vậy chiếm khoảng 60% sản lượng kinh tế của Indonesia và sử dụng khoảng 120 triệu lao động.

Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Indonesia và được hưởng lợi từ mức thuế thấp theo các hiệp định thương mại khu vực, với kim ngạch thương mại giữa hai quốc gia vượt quá 127 tỷ đô la Mỹ vào năm ngoái.

Thế nhưng, theo đại diện ngành công nghiệp Indonesia, rất nhiều sản phẩm nhập khẩu này vào Indonesia với giá rất thấp, thậm chí thông qua các kênh bất hợp pháp, khiến các sản phẩm trong nước khó có thể cạnh tranh.

Các hiệp định thương mại tự do ASEAN đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp cận này, cho phép tăng dòng hàng hóa Trung Quốc vào Đông Nam Á.

Chuyên gia đến từ Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Luật pháp, ông Muhammad Zulfikar Rakhmat, cho biết các thỏa thuận này được thiết kế nhằm thúc đẩy thương mại nội vùng, nhưng "chúng cũng có thể vô tình làm tăng dòng hàng hóa từ Trung Quốc".

Áp lực lên các nhà máy dệt là rõ ràng. Theo người đứng đầu đại diện tổ chức các doanh nghiệp vừa và nhỏ Indonesia, sự cạnh tranh khốc liệt từ hàng nhập khẩu của Trung Quốc là động lực chính khiến sản lượng sản phẩm trong nước đã giảm tới 70%, dẫn đến tình trạng phá sản và sa thải trong ngành dệt may.

Indonesia hy vọng mức thuế mới sẽ không gây ra các biện pháp trả đũa mà thay vào đó khuyến khích các nhà sản xuất Trung Quốc đầu tư bền vững hơn vào các doanh nghiệp địa phương.

Coi mức thuế mới này là một động thái tích cực, Giám đốc điều hành Hiệp hội Dệt may Indonesia, ông Danang Girindrawardana, nhấn mạnh về tầm quan trọng của việc “bảo vệ ngành công nghiệp trong nước” và tạo việc làm.

Các chuyên gia kinh tế tại Indonesia cũng cho rằng trong ngắn hạn, nếu được áp dụng tại biên giới, những mức thuế này có thể giúp giảm bớt lượng hàng nhập khẩu và tạo điều kiện cho các ngành công nghiệp địa phương phục hồi.

Tuy nhiên, một tầm nhìn rộng hơn có thể là điều cần thiết cho sự tồn tại lâu dài. Điều này bao gồm việc thắt chặt giám sát hàng nhập khẩu bất hợp pháp, thực hiện các tiêu chuẩn chất lượng nghiêm ngặt và hỗ trợ đổi mới để thúc đẩy năng lực sản xuất của ngành công nghiệp địa phương.

Minh Đức