Năm 2021 nền kinh tế nước ta đối mặt với khó khăn chưa có tiền lệ. Bước sang năm 2022 dự báo tiếp tục là một năm đầy thử thách đối với quá trình phục hồi nền kinh tế sau tổn thất do dịch bệnh. Việt Nam phải làm gì để khắc phục khó khăn, vươn lên và chớp cơ hội trong năm mới và những năm tiếp theo?
Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan
Phóng viên Thương Trường đã có cuộc trò chuyện với Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan - Nguyên Phó chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) xoay quanh vấn đề này.
Phải dựa vào nội lực để tạo đà tăng trưởng
PV: Thưa bà, năm 2021 kết thúc với nhiều khó khăn chưa có tiền lệ với nền kinh tế nước ta. Năm 2022 tình hình dịch bệnh vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp, dự báo vẫn không ít những thách thức đối với tăng trưởng. Bà có nhận định gì về những thuận lợi và khó khăn mà nền kinh tế Việt Nam đã và sẽ phải đối mặt trong thời gian tới?
Bà Phạm Chi Lan: Bối cảnh năm nay rất đặc biệt, những khó khăn chúng ta phải đối mặt là chưa từng có. Ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19, đặc biệt là đợt dịch lần thứ tư đã gây thiệt hại lớn cho nền kinh tế. Ở tất cả các tầng nấc khác nhau, từ tầng vĩ mô đến các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp, người lao động đều bị ảnh hưởng. Đặc biệt, sự kiện hàng nghìn người dân rời thành phố về quê đã gây ra “chấn động” cho cả vùng nông thôn, đặt ra rất nhiều vấn đề cần phải giải quyết. Năm 2021 là một năm rất khó khăn do đó cũng đừng kỳ vọng gì nhiều vào sự hồi phục nhanh chóng trong thời gian tới. Không ai có thể đòi hỏi Chính phủ phải có được tốc độ tăng trưởng tốt trong năm nay vì nhiệm kỳ Chính phủ mới bắt đầu vào đúng thời điểm dịch bùng phát, phải đối mặt với khó khăn chưa từng có. Đối phó với dịch bệnh đã vất vả rồi giờ để khôi phục lại càng khó khăn hơn. Đó là câu chuyện cả trong dài hạn chứ không chỉ trong ngắn hạn được.
Trong năm mới chúng ta vẫn tiếp tục đối mặt với những thử thách. Thế giới đang hồi phục nhưng vẫn đang bị dịch Covid đe dọa. Vì vậy, nhiều nước vẫn giữ mức độ tăng trưởng thận trọng. Trong khi đó cơ hội hồi phục thị trường đâu phải chỉ cho Việt Nam mà nhiều nước đang phát triển khác cũng nỗ lực để vực dậy nền kinh tế. Quốc gia nào hồi phục nhanh thì họ giành được thị trường thế giới nhanh hơn (ví dụ như Thái Lan, Ấn Độ). Việt Nam cần phải làm tốt hơn để phục hồi, chớp cơ hội trong năm 2022. Dòng vốn đầu tư nước ngoài cũng đã có những dấu hiệu tích cực nhưng vẫn phải biết tự lượng sức mình, phải nhìn nhận đánh giá đúng thực tế để đừng kỳ vọng quá cao. Nếu không có môi trường kinh doanh thật tốt tạo được sự yên tâm cho nhà đầu tư nước ngoài thì cũng khó đảm bảo các dự án có thể phát triển như thời gian vừa rồi. Những dự án mới có giá trị lớn là thật nhưng họ còn phải có thời gian triển khai chứ không thể có ngay trong năm 2022.
GDP Việt Nam năm 2021. Nguồn ảnh: TTXVN
PV: Nước ta đang nỗ lực để phục hồi nền kinh tế sau những ảnh hưởng tiêu cực của đại dịch. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hạn chế cố hữu chưa thể khắc phục, ảnh hưởng không nhỏ đến tốc độ hồi phục kinh tế. Hàng nghìn xe tải chở nông sản bị ùn ứ ở cửa khẩu trong nhiều ngày qua khiến một lượng lớn phải bỏ đi vì hư hỏng, và phần nhiều phải quay về thị trường nội địa chờ “giải cứu”. Bà có bình luận gì về sự việc này?
Bà Phạm Chi Lan: Câu chuyện này đã được nói đi nói lại nhiều lần và lần này nghiêm trọng hơn. Tất nhiên, nguyên nhân dịch bệnh là thấy rõ nhưng bên cạnh đó cũng phải thẳng thắn nhìn nhận rằng vẫn còn do nhiều nguyên nhân khác. Thứ nhất, quan niệm thị trường Trung Quốc là thị trường dễ tính vẫn con giữ trong một bộ phận không nhỏ người dân và kể cả một số cấp quản lý. Trong nhiều năm qua Trung Quốc liên tục nâng cấp tiêu chuẩn hàng hóa nhập vào thị trường của họ nhưng nước ta vẫn chưa thực sự chú trọng đến vấn đề này. Cùng với đó, nhiều người dân chỉ nhìn vào động thái của một số thương lái Trung Quốc vào thu mua lén ở Việt Nam và nghĩ đó là con đường để tiêu thụ nông sản.
Thứ hai, nông sản chúng ta đang quá phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc. Cần sớm tìm ra các thị trường khác để có thể tiêu thụ hàng nông sản tươi thay thế một phần thị trường Trung Quốc. Đây được xem là việc quan trọng, cần thiết phải làm nhanh. Đồng thời, nông nghiệp phải khẩn trương chuyển sang chế biến sâu chứ không thể cứ bán tươi mãi như thế được. Các nước xuất khẩu hoa quả sang nước ta phần lớn vẫn là sản phẩm đã qua chế biến, ngay cả hàng hoa quả tươi nhập khẩu cũng đã phải qua khâu bảo quản. Thứ 3, thị trường nội địa chưa thực sự được chú trọng, đừng xem thị trường trong nước chỉ là nơi “giải cứu” nông sản.
PV: Bà có nhấn mạnh đến việc đừng xem thị trường trong nước chỉ là nơi “giải cứu” nông sản. Vậy bà đánh giá thế nào về tiềm năng của thị trường nội địa nước ta?
Bà Phạm Chi Lan: Ngay từ những báo cáo nghiên cứu của Ngân hàng thế giới đưa ra năm 2016, họ cho rằng ngành nông nghiệp Việt Nam cần giảm chi phí, tăng giá trị sản phẩm, khuyến khích nông nghiệp chú trọng vào thị trường nội địa. Thực tế hiện nay, thị trường nội địa vẫn là nơi tiêu thụ 70% nông sản. Thị trường này vẫn còn rất nhiều tiềm năng vì dân số vẫn tiếp tục tăng, sức tiêu thụ ngày càng tốt hơn, đa dạng, phong phú và cũng cao cấp hơn. Tiềm năng như vậy, tại sao không khai thác tốt hơn nữa thị trường nội địa? Doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm nhiều khi chỉ để lấy danh tiếng hơn là lấy lãi lời thực sự vì đầu tư cho xuất khẩu quá tốn kém (bao gồm từ việc nâng cấp chuẩn mực hàng hóa lẫn bao bì đóng gói, nhãn hiệu, đăng kí thương hiệu, vận tải, phân phối). Hàng hóa bán ra giá thì nghe cao nhưng chi phí bỏ ra không hề nhỏ.
Tôi nhấn mạnh ở đây vẫn là cần thay đổi tư duy để tìm kiếm, phát triển thị trường tiêu thụ hàng hóa phù hợp. Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lê Minh Hoan cổ động cho tư duy làm kinh tế nông nghiệp chứ không phải sản xuất nông nghiệp là rất đúng, vì nếu chỉ sản xuất thì chỉ lo về sản lượng thôi. Chúng ta đang không tính toán tăng sản lượng sẽ tốn kém thêm bao nhiêu, giá trị thu về được bao nhiêu, sản xuất được lợi gì hơn khi có thêm 1 triệu tấn lúa hay là bất lợi hơn. Do đó, cần phải thay đổi tư duy làm kinh tế, trước hết là tính tới những lợi ích, hiệu quả đối với những người tham gia chuỗi sản xuất đó, đặc biệt là nông dân.
Chúng ta buộc phải thay đổi
PV: Nhưng để thực hiện được không hề đơn giản, vậy chúng ta cần phải có những giải pháp căn cơ nào, thưa bà?
Bà Phạm Chi Lan: Chúng ta phải có tư duy như người Nhật, làm hàng như làm cho cha mẹ mình ăn, con cái mình ăn. Không thể cứ mãi kiểu luống rau ăn, luốn rau bán. Cần thay đổi tư duy từ các cấp lãnh đạo, từ cách nhìn về sản xuất nông nghiệp đến việc phổ biến thông tin hướng dẫn ra sao cho bà con nông dân hiểu và làm theo. Phải có giải pháp tạo động lực khuyến khích thực sự để người dân thay đổi cách làm chứ đừng khuyến khích tăng sản lượng không thôi. Những nơi nào làm hiệu quả thì cần ủng hộ, kể cả từ hiệu quả sử dụng đất đai trở đi.
Ngay cả vấn đề liên kết trong thị trường nội địa vẫn còn rất lỏng lẻo. Thị trường nội địa đòi hỏi các khâu trong chuỗi cung ứng phải gắn kết được với nhau để cuối cùng ra được thị trường, đến được bàn ăn của người tiêu dùng. Làm tốt được điều này mới thuận cho thị trường nội địa phát triển. Thời gian vừa qua, việc này thực sự vẫn còn nhiều hạn chế. Quản lý nhà nước một sản phẩm từ đồng ruộng đến bàn ăn đã có nhiều bộ, ngành tham gia nhưng lại không có bộ, ngành nào chịu trách nhiệm đến cùng. Vì vậy, Nhà nước cần xem lại việc phân công trách nhiệm rõ ràng của các cơ quan liên quan ở các khâu trong chuỗi cung ứng, sau đó mới đến tầng doanh nghiệp.
Cần xác định trách nhiệm của doanh nghiệp cung cấp đầu vào cho nông nghiệp. Ví dụ như việc sản xuất, phân phối thuốc trừ sâu, phân bón hóa học cần phải có trách nhiệm gì. Không thể cứ nhắm mắt vào bán được càng nhiều càng tốt, khuyến khích nông dân sử dụng trong khi đó lại độc hại cho sản phẩm, cho cả đất đai, môi trường. Lợi ích của những người bán thuốc trừ sâu, phân bón hóa học đi ngược lại với lợi ích của người tiêu dùng, trở thành nhân tố cản trở nông nghiệp phát triển. Hay đối với lĩnh vực chăn nuôi cũng vậy, chất tạo nạc, chất tăng trọng đang được dùng tràn lan. Gà, lợn chỉ nuôi trong thời gian ngắn đã cho sản phẩm ra thị trường. Là người tiêu dùng thông thái ai dám sử dụng những sản phẩm như vậy? Chúng ta buộc phải thay đổi.
Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam năm 2021. Nguồn ảnh: TTXVN
PV: Làm thế nào để phát triển lực lượng doanh nghiệp cả công lẫn tư nhằm phát huy cao nhất nội lực phát triển cho nền kinh tế là câu chuyện then chốt cho phục hồi về lâu dài. Theo bà, các gói hỗ trợ của Chính phủ cần phải được sử dụng thế nào để tạo được động lực thực sự cho doanh nghiệp?
Bà Phạm Chi Lan: Gói hỗ trợ không thể chỉ tập trung vào doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp mạnh bởi vì dù sao thì những doanh nghiệp lớn mạnh họ cũng có lực, có sức chống đỡ tốt hơn. Phải nhớ là trong nền kinh tế, 98% doanh nghiệp là nhỏ và vừa, số doanh nghiệp này tạo việc làm cho 70-80% lao động. Lo cho 98% doanh nghiệp này cũng là lo cho người lao động. Người lao động có sinh kế mới có thu nhập được, đỡ đi gánh nặng nhà nước về lo an sinh xã hội. Tuy nhiên, hiện nay số doanh nghiệp này lại có nguồn lực phát triển rất hạn chế. Do đó, tôi mong muốn phải phân bổ công bằng nguồn lực để những doanh nghiệp nhỏ và vừa có cơ hội phát triển mạnh mẽ hơn.
Tôi cũng ủng hộ các doanh nghiệp lớn, cũng mong có nhiều doanh nghiệp lớn hơn nữa. Nhưng tôi cho rằng nên tính toán để phân bổ nguồn lực đồng đều chứ không phải càng lớn càng được hỗ trợ nhiều. Trước mắt, nếu hỗ trợ với doanh nghiệp lớn thì chỉ nên hỗ trợ những doanh nghiệp thuộc những lĩnh vực nào thật sự khó khăn hoặc mang tính đột phá về công nghệ. Đầu tư vào nghiên cứu tạo ra sản phẩm công nghệ cao thường rất rủi ro vì vậy Chính phủ cần có chia sẻ rủi ro này với doanh nghiệp. Làm được điều này nếu có triển vọng sẽ đóng góp cho tương lai để đưa nền kinh tế lên một bước phát triển mới dựa trên công nghệ cao nhiều hơn, theo phương châm mà Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Mạnh Hùng đưa ra cách đây vài năm: “Make in Việt Nam” chứ không phải chỉ “Made in Việt Nam”.
Ngoài ra, một số sáng kiến của doanh nghiệp lớn chịu bắt tay làm với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, chịu đưa các doanh nghiệp này vào cùng một chuỗi cung ứng thì cái đó nên hoan nghênh. Khi đó, ngay cả việc hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa để có thể tham gia vào cùng chuỗi cung ứng với doanh nghiệp lớn trong nước cũng là cách giúp doanh nghiệp lớn rồi chứ không cần hỗ trợ trực tiếp. Đối với doanh nghiệp cỡ vừa lâu nay chúng ta đang bỏ quên số doanh nghiệp này. Đây là điều đáng tiếc bởi vì các ngành công nghiệp phụ trợ thì phải quy mô cỡ vừa mới làm được hiệu quả, mới đủ sức đầu tư, đủ trình độ để quản trị và đủ vị thế để liên kết với các doanh nghiệp lớn, làm ra các sản phẩm phụ trợ cung cấp cho doanh nghiệp lớn hoặc doanh nghiệp FDI.
Như vậy, tôi muốn nhấn mạnh doanh nghiệp nào có hiệu quả mới hỗ trợ. Với những doanh nghiệp nhỏ và vừa không đủ sức hoạt động được nữa thì chấp nhận đóng cửa, giải thể nhưng nếu có triển vọng phục hồi hoặc chuyển sang ngành khác mà chứng minh được hiệu quả ứng dụng được công nghệ thì cần hỗ trợ. Nói chung, dù hỗ trợ doanh nghiệp lớn hay nhỏ thì đều phải tính đến hiệu quả, không thể rót tiền cho những doanh nghiệp không còn tương lai.
Phục hồi kinh tế trước hết phải là phục hồi sản xuất, phục hồi sức kinh doanh và tiêu dùng. Điều này có nghĩa là cần tập trung cao vào động lực phát triển của doanh nghiệp. Doanh nghiệp quốc doanh phải tiếp tục cải thiện để hoạt động hiệu quả cao hơn. Doanh nghiệp tư nhân phải thực sự trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế. Như vậy ta mới có nền tảng phục hồi vững chắc và bền vững được. Và lần này phục hồi là phải trên nền tảng mới cao hơn trước chứ không phải phục hồi chỉ là khôi phục những cái cũ. Cái cũ nào là lạc hậu thì phải sẵn sàng loại bỏ đi để cái mới phát triển. Cái nào cần phục hồi thì phục hồi, không đáng phục hồi thì bỏ đi để mà tạo nền tảng mới cho phát triển trong thời gian tới. Những cái mới là chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ vào các ngành khác nhau để nâng cao hiệu quả, nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp và toàn nền kinh tế. Tôi mong phân bổ nguồn lực đất nước thời gian tới chú trọng vào những nhân tố đó, để thúc đẩy tăng trưởng một cách bền vững.
PV: Trân trọng cảm ơn bà!
Minh Lê