11:09 24/09/2025

Vốn trung dài hạn gây áp lực, doanh nghiệp tìm cách giảm lệ thuộc ngân hàng.

Tín dụng đang sẵn sàng hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng, nhưng sự phụ thuộc quá lớn vào vốn ngân hàng tiềm ẩn nhiều rủi ro. Khi kinh tế dần phục hồi, doanh nghiệp bắt đầu san sẻ gánh nặng bằng cách huy động vốn qua chứng khoán và trái phiếu.

Hơn 17 triệu tỷ đồng tín dụng được “bơm” vào nền kinh tế

Số liệu từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho biết, tính đến cuối tháng 8/2025, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đã đạt 17,14 triệu tỷ đồng, tăng 11,08% so với cuối năm 2024. Với đà tăng trưởng này, ước tính cả năm 2025, tín dụng có thể tăng khoảng 20,19%, cao hơn nhiều so với mức bình quân 14,5% của những năm gần đây.

Chỉ trong vòng 8 tháng, hệ thống ngân hàng đã đưa ra thị trường hơn 17 triệu tỷ đồng vốn vay, góp phần quan trọng duy trì đà tăng trưởng kinh tế và hỗ trợ phục hồi sản xuất kinh doanh. Song song với đó, kênh thị trường vốn cũng trở thành điểm tựa bổ sung.

Thông qua kênh chứng khoán và phát hành trái phiếu, Chính phủ cùng doanh nghiệp đã huy động thêm trên 5,5 triệu tỷ đồng. Tính chung 8 tháng, nền kinh tế đã có thêm hơn 22,5 triệu tỷ đồng từ cả ngân hàng và thị trường vốn, một con số phản ánh rõ nét nhu cầu vốn trung, dài hạn đang tăng cao.

Đối với ngành ngân hàng, dù tín dụng tăng trưởng mạnh nhưng thanh khoản hệ thống vẫn duy trì ở trạng thái dồi dào. Nguyên nhân là nhờ NHNN có đợt bơm ròng quy mô lớn, hơn 156.900 tỷ đồng trong tháng 6 và tháng 7, giúp dòng tiền lưu thông thuận lợi.

Bên cạnh đó, tiền gửi của người dân và doanh nghiệp tiếp tục tăng mạnh. Tính đến cuối tháng 6/2025, tổng tiền gửi trong hệ thống đạt mức kỷ lục 15,8 triệu tỷ đồng cao nhất từ trước tới nay.

Chính những yếu tố này đã giúp các ngân hàng thương mại duy trì mặt bằng lãi suất huy động ở mức ổn định. Theo NHNN, lãi suất tiền gửi không kỳ hạn và kỳ hạn 1 tháng hiện chỉ khoảng 0,2%/năm. Với các kỳ hạn 1 đến dưới 6 tháng, mức lãi suất phổ biến từ 3,3 – 4,1%/năm; kỳ hạn 6 – 12 tháng dao động 4,6 – 5,5%/năm; kỳ hạn từ 12 – 24 tháng là 4,9 – 6,1%/năm; và kỳ hạn trên 24 tháng giữ ở mức 6,8 – 7,3%/năm.

Mặt bằng lãi suất huy động ổn định đã tạo điều kiện kéo giảm lãi suất cho vay. Đến 31/8/2025, lãi suất cho vay bình quân mới ở mức 6,38%/năm, giảm 0,56 điểm % so với cuối năm 2024. Đây là tín hiệu tích cực, vừa thúc đẩy nhu cầu vay vốn, vừa hỗ trợ mở rộng đầu tư và tiêu dùng.

Các chuyên gia đánh giá, áp lực thanh khoản trên thị trường tiền tệ đã giảm đáng kể, nhờ đó lãi suất huy động có khả năng giữ nguyên hoặc giảm nhẹ trong thời gian tới. Điều này đồng nghĩa mặt bằng lãi suất cho vay sẽ được duy trì ổn định, tạo dư địa hỗ trợ doanh nghiệp và người dân phát triển sản xuất, mở rộng tiêu dùng, qua đó góp phần giữ vững đà tăng trưởng của nền kinh tế.

Đáng chú ý, đến cuối tháng 8, mặt bằng lãi suất cho vay bình quân của các ngân hàng, bao gồm cả khoản vay cũ và mới, đang dao động trong khoảng 6,5 – 8,8%/năm. Riêng lãi suất cho vay ngắn hạn áp dụng cho các lĩnh vực ưu tiên chỉ ở mức 3,9%/năm, thấp hơn trần 4%/năm mà NHNN quy định. Đây là minh chứng rõ ràng cho nỗ lực giảm chi phí vốn, đồng hành cùng doanh nghiệp và người dân trong giai đoạn phục hồi.

Vốn trung dài hạn gây áp lực doanh nghiệp tìm cách giảm lệ thuộc ngân hàng
Tín dụng đang sẵn sàng hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng, nhưng sự phụ thuộc quá lớn vào vốn ngân hàng tiềm ẩn nhiều rủi ro.

Doanh nghiệp tìm lối thoát khỏi sự lệ thuộc vốn ngân hàng

Trong bối cảnh nền kinh tế đang trên đà phục hồi mạnh mẽ, nhu cầu về nguồn vốn trung và dài hạn của doanh nghiệp ngày càng trở nên bức thiết. Đây là “dòng máu” nuôi dưỡng đầu tư công nghệ, mở rộng sản xuất và nâng cao năng lực cạnh tranh, giúp doanh nghiệp Việt Nam chen chân sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Thế nhưng, nếu tất cả chỉ trông chờ vào tín dụng ngân hàng thì rủi ro không nhỏ. Nhiều chuyên gia cảnh báo, sự phụ thuộc quá mức vào nguồn vốn tín dụng không chỉ tạo gánh nặng cho hệ thống ngân hàng, mà còn thu hẹp dư địa chính sách tài khóa – tiền tệ vốn được xem là “tấm đệm an toàn” cho nền kinh tế khi đối mặt với biến động bên ngoài.

TS. Trần Minh Tuấn, Phó Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Chứng khoán Smart Invest, cho rằng: “Một khi tín dụng tăng trưởng quá nóng sẽ tạo sức ép lớn lên ngân hàng thương mại, dẫn đến nguy cơ phải tăng lãi suất. Chỉ khi thị trường vốn phát triển đủ mạnh, gánh nặng đó mới được chia sẻ và giảm bớt”.

Thực tế, những chuyển động trên thị trường đã phần nào phản ánh nhận định này. Cùng với sự hồi phục sản xuất kinh doanh, ngày càng nhiều doanh nghiệp đang chủ động “chia dòng vốn”, không còn phụ thuộc hoàn toàn vào ngân hàng, mà chuyển sang huy động qua các kênh chứng khoán, trái phiếu và sản phẩm tài chính khác. Điều này vừa đáp ứng được nhu cầu vốn trung – dài hạn cho bản thân doanh nghiệp, vừa góp phần giảm áp lực cung ứng vốn lên hệ thống tín dụng.

Trong số các lĩnh vực, bất động sản – xây dựng nổi lên như ngành có nhu cầu vốn lớn nhất và thời gian thu hồi dài nhất, chiếm tới 8% GDP. Thế nhưng, vốn vay ngân hàng lại chủ yếu mang tính ngắn hạn, khó phù hợp với chu kỳ đầu tư dài hơi. Bởi vậy, phát hành trái phiếu doanh nghiệp và huy động vốn cổ phần đang trở thành giải pháp chiến lược.

Chỉ trong vài tháng gần đây, hàng loạt doanh nghiệp bất động sản công bố kết quả huy động trái phiếu với giá trị “khủng”. Điển hình, từ tháng 7 đến nay, Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển Bất động sản Thành Vinh đã thực hiện 5 đợt phát hành trái phiếu riêng lẻ, huy động 2.610 tỷ đồng.

Công ty TNHH Đầu tư và Phát triển Bất động sản Trường Minh gọi vốn 2.500 tỷ đồng, Công ty Cổ phần May – Diêm Sài Gòn 990 tỷ đồng, Công ty Cổ phần Phát triển Bất động sản Văn Phú 250 tỷ đồng, Tổng công ty Đầu tư và Phát triển Công nghiệp 500 tỷ đồng. Đặc biệt, Vinhomes gây chú ý với kế hoạch phát hành lên tới 15.000 tỷ đồng.

Theo bà Phạm Thị Miền, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Đánh giá thị trường bất động sản Việt Nam: “Khi doanh nghiệp đa dạng hóa kênh huy động, thị trường bất động sản sẽ có dư địa phát triển bền vững hơn, tránh tình trạng ‘sốc’ vốn mỗi khi tín dụng bị siết chặt”.

Tuy vậy, không thể phủ nhận rằng thị trường vốn Việt Nam vẫn còn non trẻ. Quy mô thị trường trái phiếu doanh nghiệp – vốn là kênh huy động trung và dài hạn then chốt còn khá nhỏ bé và tiềm ẩn rủi ro minh bạch. Các chuyên gia cho rằng, để thị trường vốn thực sự trở thành “chân kiềng thứ hai” bên cạnh tín dụng ngân hàng, cần khẩn trương hoàn thiện khung pháp lý, nâng cao tính minh bạch và kỷ luật phát hành.

Xa hơn, việc phát triển thêm các sản phẩm tài chính đa dạng, gắn với xây dựng các Trung tâm tài chính quốc tế, sẽ giúp Việt Nam không chỉ thu hút được dòng vốn trong nước, mà còn mở rộng cánh cửa với nguồn lực toàn cầu.

Khi đó, thị trường vốn mới đủ sức trở thành động lực quan trọng, song hành cùng ngân hàng, góp phần đưa nền kinh tế tiến tới mục tiêu tăng trưởng 2 con số trong giai đoạn tới.

Thanh Cao