Mặt bằng lãi suất đã về vùng đáy, tuy nhiên được dự báo tiếp tục duy trì ở mức thấp, hỗ trợ xu hướng thị trường chứng khoán trong năm 2024.
Trong báo cáo triển vọng thị trường mới cập nhập, Chứng khoán KB Việt Nam (KBSV) nhận định mặt bằng lãi suất huy động đã xuống mức thấp kỷ lục, trong khi lãi suất cho vay cũng đã điều chỉnh tương đối từ mức đỉnh cuối 2022 là yếu tố hỗ trợ mạnh cho dòng tiền trên TTCK xuyên suốt nhiều quý trở lại đây.
Xét riêng 3 tháng đầu năm, với việc tăng trưởng tín dụng ở mức thấp, tiêu dùng nội địa còn yếu, áp lực tỷ giá chưa gây ảnh hưởng trực tiếp lên mặt bằng lãi suất thị trường 1, mặt bằng lãi suất đã tiếp tục được giảm thêm, giúp thanh khoản thị trường đã xuất hiện nhiều phiên giá trị giao dịch trên 1 tỷ USD.
Vnindex và lãi suất huy động bình quân kỳ hạn 12 tháng
Dù vậy, KBSV không cho rằng lãi suất huy động còn dư địa để giảm thêm do mặt bằng chung đang ở mức thấp lịch sử, trong khi áp lực lạm phát, tỷ giá đang có tín hiệu cần thận trọng. Thêm vào đó, tín dụng được kỳ vọng sẽ dần phục hồi vào nửa sau 2024, tương ứng với sự phục hồi của tăng trưởng kinh tế. Trong kịch bản cơ sở, mặt bằng lãi suất sẽ đi ngang hay chỉ nhích tăng nhẹ ở vùng thấp, tiếp tục là yếu tố hỗ trợ TTCK.
Yếu tố kìm hãm xu hướng giảm của lãi suất
Áp lực lạm phát và tỷ giá gia tăng trong 2 tháng trở lại đây là trở ngại chính cho đà giảm lãi suất ở thời điểm hiện tại (bên cạnh yếu tố mặt bằng lãi suất vốn đã ở mức rất thấp trong lịch sử). Cụ thể, tính đến thời điểm 01/04, lãi suất huy động toàn hệ thống bình quân ở mức 4.6% với kỳ hạn 12 tháng, giảm 0.11% so với tháng trước.
Dù mục tiêu hàng đầu của NHNN là duy trì mặt bằng lãi suất thấp, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nhưng các áp lực và dấu hiệu hiện tại khiến KBSV cho rằng mặt bằng lãi suất nhiều khả năng đã tạo đáy. Theo đó, KBSV dự báo lãi suất huy động 12 tháng bình quân có thể nhích nhẹ nhưng vẫn giao động trong khoảng 4.75% – 5.35%.
Áp lực lạm phát đáng lưu ý. CPI và Core CPI tháng 3 lần lượt -0.23% và +0.03% so với cùng kỳ, bình quân quý 1/2024 lần lượt tăng 3.77% và 2.81%. So với quý 1/2023, các nhóm ngành tác động chính là lương thực tăng 16.51% (trong đó giá gạo tăng 21.7%); nhà ở và VLXD tăng 5.4% do giá thuê nhà, giá nước và giá điện tăng; nhóm giáo dục tăng 9.02% do tăng học phí và nhóm dịch vụ y tế tăng 6.51% do giá điều chỉnh theo thông tư của Bộ Y tế.
Bên cạnh đó, giá dầu thô Brent đã bật tăng mạnh từ mức 76 USD/thùng đầu năm lên mức quanh 85 USD/thùng trong tháng 3/2024 và được dự báo sẽ còn tiếp tục duy trì đà tăng trong năm 2024 (được đề cập ở phần Triển vọng ngành Dầu khí) sẽ là yếu tố bất định khiến áp lực lạm phát trở nên khó lường hơn trong phần còn lại của năm 2024.
Mặc dù lạm phát vẫn còn cách xa mục tiêu kiểm soát lạm phát dưới 4.5%, nhưng việc tốc độ tăng ngày một nhanh trong các tháng gần đây đang nhắc nhở các nhà điều hành không được chủ quan với lạm phát.
Nhu cầu tín dụng được dự báo sẽ gia tăng trong nửa sau của năm. Cụ thể, KBSV kỳ vọng tăng trưởng tín dụng sẽ phục hồi rõ nét vào nửa sau năm 2024, tương đồng với sự phục hồi của nền kinh tế trước những động lực tăng trưởng như sự phục hồi của lĩnh vực xuất khẩu từ mức nền thấp cùng kỳ; sự thẩm thấu của chính sách tiền tệ hạ lãi suất, và chính sách tài khoá đẩy mạnh đầu tư công; thị trường bất động sản ấm dần lên nhờ chính sách tháo gỡ khó khăn của Chính phủ; bên cạnh các động lực khác như vốn FDI, tiêu dùng nội địa cải thiện.
Trên thực tế, sau 2 tháng đầu năm tăng trưởng tín dụng âm do chịu ảnh hưởng bởi yếu tố mùa vụ, cũng như yếu tố kỹ thuật do tăng trưởng cao đột biến vào tháng 12/2023, tăng trưởng tín dụng toàn nền kinh tế tính đến hết 25/03 đã tăng trở lại lên mức 0.26% Ytd.
Dù vậy, KBSV cho rằng sự phục hồi của thị trường bất động sản sẽ tương đối chậm do vấn đề thiếu nguồn cung và các dự án sẵn sàng triển khai, trong khi mặt bằng giá bất động sản các khu vực trung tâm hiện vẫn đang neo cao. Theo đó, KBSV dự báo tăng trưởng tín dụng trong năm đạt 14% - 15%.
Tỷ giá tiếp tục xu hướng tăng nhưng sẽ dần hạ nhiệt vào nửa cuối năm
Áp lực tỷ giá gia tăng đã khiến NHNN có động thái hút ròng tín phiếu từ giữa tháng 3 với mục đích làm tăng lãi suất VND trên thị trường liên ngân hàng, từ đó giảm áp lực tỷ giá từ hoạt động giao dịch đầu cơ carry trade.
Theo KBSV, trong ngắn hạn, diễn biến tăng của tỷ giá sẽ tiếp tục được hỗ trợ bởi xu hướng tăng của DXY và lợi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ (với áp lực lạm phát và giá dầu khiến kỳ vọng về việc FED Pivot lùi dần), giá vàng vượt đỉnh thời đại và được dự báo tiếp tục ở ngưỡng cao gây áp lực lên tỷ giá chợ đen và sự phục hồi của hoạt động nhập khẩu và động thái găm giữ ngoại tệ. Với bối cảnh tỷ giá liên ngân hàng tiến sát về vùng chặn bán của NHNN, nhiều khả năng NHNN có thêm các động thái quyết liệt hơn như bán hợp đồng kỳ hạn USD.
Dù vậy, trong trung hạn, với định hướng xuyên suốt là duy trì mặt bằng lãi suất huy động và cho vay ở mức thấp, cùng kỳ vọng chỉ số DXY hạ nhiệt khi tiến gần thời điểm FED hạ lãi suất, KBSV cho rằng áp lực tỷ giá cả năm 2024 nhìn chung sẽ chỉ căng thẳng cục bộ ở 1 vài thời điểm và không phải yếu tố khiến mặt bằng lãi suất bật tăng mạnh trở lại với kịch bản cơ sở giá dầu WTI không vượt xa ngưỡng 90.
Thêm vào đó, tỷ giá trong năm nay cũng sẽ được hỗ trợ từ nguồn cung ngoại tệ đến từ hoạt động xuất nhập khẩu và dòng vốn FDI tiếp tục tăng trưởng tích cực. Vốn đầu tư nước ngoài đăng ký tính đến ngày 20/3 đạt 6.17 tỷ USD (+13.4% YoY). Trong khi đó, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 3 tháng đầu năm ước đạt 4.63 tỷ USD (+7.1% YoY) và là mức cao nhất trong 5 năm qua.
Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu 3 tháng đầu năm đạt 178.04 tỷ USD, trong đó xuất khẩu đạt 93.06 tỷ USD (+17%) và nhập khẩu đạt 84.98 tỷ USD (+18%). Tính chung 3 tháng đầu năm, Việt Nam xuất siêu 8.08 tỷ USD. Hoạt động của doanh nghiệp nội tiếp tục cải thiện và phục hồi khi chỉ nhập siêu 1.29 tỷ USD.
Do đó, KBSV dự báo tỷ giá tăng 2.5% trong năm nay, đạt 24,850.
Trung Anh