12:02 13/02/2024

Cần giải quyết các ‘nghịch lý’ trước nỗi lo suy giảm tổng cầu

Năm 2023 với đầy biến động, các nền kinh tế lớn trên thế giới phải vật lộn với bao thử thách, kinh tế suy giảm, lạm phát cao, chính sách tiền tệ thắt chặt, người tiêu dùng gói ghém hầu bao… đã tác động đáng kể đến kinh tế Việt Nam, đặc biệt là với hàng hoá xuất khẩu khiến doanh nghiệp trong nước suy giảm đơn hàng, gây ra nhiều khó khăn cho chính doanh nghiệp cũng như cho nền kinh tế nước ta.

Cần giải quyết các ‘nghịch lý’ trước nỗi lo suy giảm tổng cầu

Trong bối cảnh khó khăn đó, ngay từ đầu năm Chính phủ đã thực hiện quyết liệt nhiều chủ trương, quyết sách quan trọng như giảm thuế, hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp và người dân thúc đẩy sản xuất kinh doanh, thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công, kích cầu tiêu dùng… Điều đó đã tạo đà để kinh tế nước nhà tiếp tục duy trì mức tăng trưởng khá, tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý III/2023 ước tính tăng 5,33% so với cùng kỳ năm trước, dù chỉ cao hơn tốc độ tăng của cùng kỳ các năm 2020 và 2021, và theo hướng tích cực (quý I tăng 3,28%, quý II tăng 4,05%). Tuy nhiên, theo các chuyên gia kinh tế, “dường như mọi thứ vẫn chưa phát huy tác dụng”.

Ảnh hưởng lớn từ biến động của thế giới

Năm 2023, kinh tế Việt Nam đã đi được 3/4 quãng đường trong bối cảnh kinh tế thế giới có triển vọng tiêu cực. Cụ thể là, tăng trưởng toàn cầu giảm tốc do chính sách thắt chặt tiền tệ, cuộc chiến ở Ukraine tiếp tục đè nặng lên các hoạt động kinh tế.

Kinh tế khu vực đồng tiền chung châu Âu đang rơi vào tình trạng trì trệ khi GDP quý II/2023 tăng 0,1%, thấp hơn mức dự báo 0,3%. Kinh tế Đức, nền kinh tế lớn nhất châu Âu, được ví như trái tim của cựu lục địa đang rơi vào tình trạng đình trệ, thiếu hụt động lực, có nguyên nhân từ các vấn đề về cấu trúc, điển hình là nỗ lực kiềm chế lạm phát thông qua chính sách liên tục tăng lãi suất dẫn đến kìm hãm mọi ngành sản xuất. Giá dầu thô tăng lên mức trên ngưỡng 90USD/thùng gây áp lực gia tăng lạm phát.

Áp lực lạm phát dai dẳng khiến Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) và Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) tiếp tục tăng lãi suất để đưa lạm phát dần về mức lạm phát mục tiêu. Các vấn đề về tài chính của Mỹ và châu Âu đang gây thêm bất ổn cho kinh tế thế giới vốn đã phức tạp. Nợ quốc gia của Mỹ đã vượt qua mức kỷ lục 32.000 tỷ USD lần đầu tiên trong lịch sử. Bên cạnh nợ công, chi phí lãi vay tăng cao đòi hỏi chính phủ các nước phải tiếp tục củng cố tài khóa. Điều này làm giảm tổng cầu thế giới, tác động tiêu cực tới các nền kinh tế có chiến lược tăng trưởng dựa vào xuất khẩu như Việt Nam.

Thương mại toàn cầu bắt đầu suy giảm từ quý IV/2022, khiến thương mại toàn cầu cả năm 2022 chỉ tăng 2,7%. Trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều bất ổn do ảnh hưởng của xung đột tại Ukraine, tình trạng lạm phát cao dai dẳng, chính sách tiền tệ thắt chặt và thị trường tài chính bấp bênh, Tổ chức Thương mại Thế giới dự báo thương mại toàn cầu năm 2023 tăng 1,7%, thấp hơn 1 điểm phần trăm so với năm trước.

Tổng cầu của các nền kinh tế là đối tác thương mại chính của Việt Nam còn yếu, tác động tiêu cực tới kim ngạch xuất khẩu của nước ta. Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa 10 tháng năm 2023 giảm 7,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong khi tổng kim ngạch nhập khẩu của nền kinh tế với 93,7% là tư liệu sản xuất, trong 10 tháng năm 2023 giảm 12,3%. Điều này phản ánh thực tế hoạt động sản xuất suy giảm do tổng cầu thế giới và trong nước chưa phục hồi.

Nhiều chỉ số về tổng cầu suy giảm

Tổng cầu được sử dụng để đo lường hoạt động kinh tế tổng thể của một quốc gia. Về lý thuyết, tổng cầu của một nền kinh tế là tổng giá trị của tất cả hàng hóa và dịch vụ được sản xuất trong một thời kỳ nhất định. Nó thường được tính từ tiêu dùng cá nhân, đầu tư, chi tiêu của chính phủ và xuất khẩu. Phân tích những kết quả mà nền kinh tế nước ta đạt được trong 10 tháng qua, có thể thấy rõ sự yếu kém của tổng cầu.

Cụ thể, các vấn đề liên quan đến sản xuất, xuất khẩu đều có “điểm thấp”. Theo Tổng cục Hải quan, dù duy trì thặng dư thương mại cao nhưng kim ngạch xuất khẩu trong 10 tháng năm 2023 lại giảm đáng kể 7,1% so với cùng kỳ năm ngoái do nhu cầu từ các thị trường lớn thấp. Xuất khẩu sang thị trường Mỹ ghi nhận mức giảm mạnh nhất với 17,2%, EU giảm 12,4%...

Trong báo cáo của S&P Global, cho thấy chỉ số PMI ngành sản xuất Việt Nam vẫn nằm dưới ngưỡng 50 điểm trong tháng 10/2023, giảm nhẹ từ mức 49,7 điểm của tháng 9 xuống mức 49,6 điểm. Điều này phản ánh “sức khỏe” lĩnh vực sản xuất của Việt Nam tiếp tục suy giảm do số lượng đơn đặt hàng mới giảm.

Trong quý III/2023, có 26,3% doanh nghiệp dự kiến ​​đơn hàng giảm. Về đơn hàng xuất khẩu, con số này lần lượt là 38,3% và 27,1%. Theo các chuyên gia, tăng trưởng kinh tế vẫn còn bị cản trở, nhiều nước phát triển tiếp tục thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ trong bối cảnh lạm phát cao có thể trì hoãn việc cải thiện nhu cầu bên ngoài đối với hàng hóa xuất khẩu.

Không có thị trường tiêu thụ sản phẩm, doanh nghiệp lâm vào tình cảnh cạn kiệt nguồn vốn. Trái phiếu doanh nghiệp đến kỳ đáo hạn, vốn vay ngân hàng đến kỳ phải trả, việc hoàn thuế và dòng tiền về chậm khiến nhiều doanh nghiệp lao đao, sản xuất cầm chừng. Hơn nữa, doanh nghiệp còn phải xử lý những bất cập trong nội tại của nền kinh tế, đó là thể chế, chính sách còn mâu thuẫn, điều kiện kinh doanh tồn tại nhiều rào cản,… Đặc biệt, sự chậm trễ, kém hiệu quả trong thực thi các chính sách, giải pháp tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ doanh nghiệp do một số bộ, cơ quan, địa phương và một bộ phận cán bộ, công chức né tránh, đùn đẩy công việc, sợ trách nhiệm, không quyết định công việc thuộc thẩm quyền đã đẩy doanh nghiệp lâm vào tình cảnh ngày càng khó khăn.

Tính chung trong 10 tháng năm 2023, cứ 10 doanh nghiệp gia nhập thì có 8 doanh nghiệp rút khỏi thị trường. Nhất là trong thời điểm cuối quý I/2023, lần đầu tiên xảy ra tình cảnh số doanh nghiệp rút khỏi thị trường cao hơn số doanh nghiệp mới tham gia và quay trở lại thị trường. Bình quân một tháng trong quý I có gần 19.000 doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động, trong khi đó có gần 20.100 doanh nghiệp rút khỏi thị trường,...

Theo báo cáo của S&P Global, các điều kiện kinh doanh tổng thể trong ngành sản xuất của Việt Nam đã giảm nhẹ vào tháng 10 khi các công ty tiếp tục giảm sản lượng mặc dù số lượng đơn đặt hàng mới tăng nhẹ. Một số công ty đã tăng sản lượng phù hợp với mức tăng của số lượng đơn đặt hàng mới, tuy nhiên nhiều công ty đã có thể đáp ứng yêu cầu của khách hàng mà không cần tăng sản lượng.

Mặc dù số lượng đơn đặt hàng mới đã tăng tháng thứ ba liên tiếp khi có các dấu hiệu cải thiện nhu cầu khách hàng, tuy nhiên, tốc độ tăng chỉ là nhẹ và là mức yếu nhất trong bối cảnh hiện nay. Các số liệu thống kê chưa đầy đủ cho thấy khách hàng vẫn ngần ngại trong việc cam kết đơn hàng mới. Số lượng đơn hàng xuất khẩu mới cũng tăng chậm lại trong tháng 10 và khi khép lại quý III.

Cùng với các chỉ số từ tình hình sản xuất kinh doanh, tổng cầu giảm còn thể hiện rõ ở nhu cầu tín dụng yếu. Tín dụng đối với nền kinh tế trong 10 tháng qua tăng đạt khoảng 12,63 triệu tỷ đồng, tăng khoảng 5,92% so với cuối năm 2022, thấp hơn nhiều so với kế hoạch đặt ra (14-15%). Tính bình quân, tăng trưởng tín dụng trong 9 tháng đầu năm 2023 chỉ đạt khoảng 0,64%/tháng, thấp hơn đáng kể so với tốc độ tăng trưởng tín dụng bình quân hằng tháng của các năm gần đây. Tăng trưởng tín dụng thấp cho thấy khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế còn hạn chế, dù lãi suất có xu hướng giảm so với năm 2022.

Theo giải thích của Ngân hàng Nhà nước, ngành ngân hàng vẫn duy trì thanh khoản tốt để cung cấp tín dụng, nhưng một trong những yếu tố khiến nhu cầu tín dụng thấp là do nhu cầu đầu tư và tiêu dùng thấp khiến nhu cầu tín dụng không thể tăng như kỳ vọng.

Cần giải quyết tốt các ‘nghịch lý’ trong nền kinh tế

Trong suốt hành trình của năm 2023, Chính phủ đã có nhiều chỉ đạo quyết liệt nhằm gỡ khó cho thị trường và doanh nghiệp, thế nhưng dường như mọi thứ vẫn chưa phát huy tác dụng. Điều rất đáng chú ý là năm nay nhu cầu tiêu dùng của người dân hoàn toàn rộng mở, nhu cầu đầu tư của doanh nghiệp, nguồn lực hỗ trợ doanh nghiệp cũng được triển khai theo chỉ đạo của Chính phủ, và ngân hàng cũng đã 4 lần giảm lãi suất, tích cực hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp.

Về mặt lý thuyết, các chính sách thuế, lãi suất đều có thể ảnh hưởng đến chi tiêu tiêu dùng và đầu tư, bởi khi cắt giảm thuế đối với cá nhân sẽ có xu hướng tăng nhu cầu tiêu dùng, trong khi việc tăng thuế sẽ có xu hướng làm giảm nhu cầu tiêu dùng. Các chính sách này cũng có thể thúc đẩy nhu cầu đầu tư bằng cách đưa ra mức thuế suất thấp hơn cho các tập đoàn hoặc giảm thuế mang lại lợi ích cho các loại hình đầu tư cụ thể. Tuy nhiên, theo các chuyên gia kinh tế, vốn lúc này không thiếu, thậm chí thừa và các doanh nghiệp cũng rất sẵn sàng đầu tư nhưng không thể đầu tư. Đó quả thực là một nghịch lý, và nó cũng là bài toán cần giải để đưa kinh tế Việt Nam vững vàng phát triển.

Trong khi nền tảng kinh tế vĩ mô ổn định, các năng lực sản xuất vững mạnh, song vẫn chưa đủ để đưa nền kinh tế quay trở lại quỹ đạo tăng trưởng cao như mong muốn. Vậy nguyên nhân của tình trạng này là gì? Các chuyên gia và nhà phân tích kinh tế, cho rằng, chúng ta hoàn toàn chưa khai thác tốt nhất các giá trị vốn rất tiềm năng trong cơ cấu chỉ số tổng cầu cần cải thiện của nền kinh tế. Trong đó, các yếu tố chính yếu như: chưa phát huy được tiềm năng tiêu dùng cuối cùng; đầu tư công - chi tiêu chính phủ và đầu tư của doanh nghiệp còn vướng chân nhau; hoạt động xuất khẩu gặp nhiều khó khăn.

Ở góc độ người tiêu dùng cuối, đây là phần quan trọng nhất của tổng cầu, là tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ hàng hóa tiêu dùng. Trong năm 2022, chỉ dấu này đạt 240 tỷ USD, so với tổng kim ngạch xuất khẩu trong năm 2022 là 371 tỷ USD, con số này tương đương 65%. Nhưng thời gian qua, trong khi xuất khẩu giảm tốc, tốc độ tăng tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ hàng hóa tiêu dùng trong nước vẫn duy trì mức độ tăng khá. Điều này cho thấy Việt Nam có tiềm năng to lớn để biến tiêu dùng cuối cùng thành một trụ cột quan trọng của tổng cầu.

Vào trung tuần tháng 4/2023, dân số nước ta đã chính thức đạt mức 100 triệu dân. Đây là thị trường với số lượng người tiêu dùng lớn thứ 15 thế giới và đứng thứ 3 trong ASEAN. Điều này cũng đồng nghĩa, nhu cầu về nhà ở, nhà cho thuê, dịch vụ nhà ở cho người dân đang gia tăng mạnh. Vậy nhưng, trong 6 tháng đầu năm, một lượng cầu rất lớn về nhà ở đã không được hiện thực hóa, đã không đóng góp làm gia tăng cho tổng cầu của nền kinh tế, ảnh hưởng tới tốc độ tăng trưởng chung. Rõ ràng phát triển thị trường nhà ở cho người dân, đặc biệt là những người có nhu cầu thực sự, sẽ có đóng góp trực tiếp cho tổng cầu trong ngắn hạn, đóng góp cho sự hình thành của một cấu trúc tổng cầu hợp lý, bền vững hơn trong dài hạn.

Ở góc độ chi tiêu của Chính phủ là cấu phần quan trọng trong tổng cầu. Do vậy sau mỗi cú sốc kinh tế, vai trò của chi tiêu của Chính phủ lại được đề cao nhằm hỗ trợ cho tổng cầu. Năm 2023, tổng nguồn vốn đầu tư công của Việt Nam dự kiến đạt 750.000 tỷ đồng, cao hơn rất nhiều so với những năm trước đó. Vẫn biết tăng mạnh đầu tư công dẫn tới tăng chi tiêu Chính phủ, đi kèm với các rủi ro về gia tăng nợ công, lấn át đầu tư tư nhân, nhưng theo các chuyên gia, chúng ta cũng cần được duy trì ở mức hợp lý trong mối quan hệ tương quan với đầu tư tư nhân và với tổng cầu của nền kinh tế.

Để khôi phục và tăng trưởng tổng cầu, không thể không nhắc đến vai trò của đầu tư của doanh nghiệp, hộ gia đình. Đầu tư của doanh nghiệp, hộ gia đình ngoài việc đóng góp trực tiếp cho tổng cầu, còn đóng góp cho việc mở rộng năng lực sản xuất, năng lực đáp ứng về hàng hóa, dịch vụ trong tương lai.

Trong hoạt động xuất khẩu, rõ ràng sự suy giảm của hoạt động xuất khẩu đã ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh và thu nhập hàng nghìn doanh nghiệp và hàng trăm nghìn người lao động. Điều này lại ảnh hưởng tới hai cấu phần quan trọng khác của tổng cầu đó là tiêu dùng nội địa và đầu tư của doanh nghiệp và người dân.

Sự sụt giảm của hoạt động xuất khẩu cũng cho thấy một số hạn chế cần được khắc phục, như yêu cầu phải đa dạng hóa hơn nữa các sản phẩm xuất khẩu, thị trường xuất khẩu. Bởi thực tế hiện nay một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam dường như đã không còn lợi thế cạnh tranh.

Các nỗ lực đa dạng hóa sản phẩm, đa dạng hóa thị trường của các ngành hàng là giải pháp trước mắt, nhưng có thể không đủ để bù đắp cho lợi thế bị mất đi về giá lao động. Đây là thách thức cần được vượt qua để đảm bảo cầu từ thị trường thế giới đối với hàng hóa xuất khẩu từ Việt Nam sẽ được duy trì bền vững trong trung hạn.

Thặng dư là điều lẽ ra đáng mừng, nhưng thặng dư thương mại thời gian qua được duy trì phần lớn do nhập khẩu giảm mạnh hơn xuất khẩu, phản ánh nhu cầu của toàn cầu đối với hàng hóa dịch vụ của Việt Nam suy giảm, cũng cho thấy lượng máy móc, thiết bị nhập khẩu để hỗ trợ cho năng lực sản xuất của nền kinh tế suy giảm. Điều này rõ ràng không phải là yếu tố thuận lợi đối với năng lực cung ứng của nền kinh tế trong những năm tới.

Theo Chuyên gia kinh tế TS. Lê Duy Bình, những thách thức nền kinh tế phải đối diện trong nửa đầu năm 2023 cho thấy nhiều hạn chế về cấu trúc tổng cầu của nền kinh tế cần được điều chỉnh. Do đó, chúng ta cần có sự điều chỉnh phù hợp, “không chỉ hướng tới mục tiêu đưa nền kinh tế quay trở lại tốc độ tăng trưởng cao hơn trong thời gian còn lại của năm 2023, mà còn cần hướng tới các giải pháp nhằm tái cấu trúc tổng cầu, tái cấu trúc nền kinh tế, tái cấu trúc các hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh, nhằm hướng tới năng lực cạnh tranh, tính tự chủ, tự cường mạnh mẽ hơn của nền kinh tế”, TS.Bình nhấn mạnh.

Thái Đạt