Một năm với 365 ngày bận rộn khép lại, nhưng cuộc sống và dòng chảy của nền kinh tế vẫn không ngừng nghỉ. Khép lại một năm chỉ là cách chúng ta chốt lại những con số cơ học suốt hành trình 12 tháng đã qua, và để hiểu hơn về bức tranh kinh tế vốn quá nhiều thách thức như năm 2023. Ở đó, xuất khẩu được nhìn nhận với nhiều gam màu trái ngược khiến chúng ta cần thêm những đánh giá lại.
Xuất khẩu là một bức tranh trong tổng hoà bức tranh đa sắc của nền kinh tế Việt Nam, cũng là hành trình 12 tháng với bao biến động và khó khăn như mọi năm cũ. Nhưng năm 2023 lại cho thấy nhiều điểm khác biệt, ở đó có những điểm đối nghịch dễ nhận thấy và cũng có những màu sắc sáng – tối đan xen, chúng quện hoà vào nhau để cho ta thấy không phải cái gì cũng hoàn hảo trước một thế giới vốn đầy biến động.
Xuất khẩu rau quả năm 2023 ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng
Rau quả, gạo tăng trưởng kỷ lục
Giữa bộn bề khó khăn của nền kinh tế thế giới, con đường xuất ngoại của nhiều loại rau quả của Việt Nam lại nổi đình nổi đám đến vậy. Ít ai ngờ rằng, loại quả mùi “nằng nặng” như sầu riêng lại trở thành món quà quý đối với nhiều người tiêu dùng thế giới, nhất là với Trung Quốc. Đó là một trong rất nhiều tín hiệu vui, là điểm sáng đáng chú ý trong bức tranh xuất khẩu của ngành rau quả và hạt gạo Việt Nam.
Bao năm trồng, chặt, rồi phá để mong tìm kiếm cây trái cho thế giới mê mẩn và yêu chuộng, người nông dân Việt vẫn cần mẫn với con đường nông sản. Khi cả thế giới thay đổi, nông dân chúng ta cũng đang thay đổi, và những lựa chọn đổi thay cũng giúp họ cải thiện chính mình cũng như cho chính bức tranh kinh tế của đất nước.
Giờ đây, ở nhiều châu lục và nhiều nền kinh tế lớn, sản vật rau quả Việt Nam đã có chỗ đứng. Điển hình nhất là với thị trường Trung Quốc, xuất khẩu rau quả đã đạt hơn 2,26 tỷ USD, tăng 134% so với cùng kỳ năm ngoái. Tiếp đến là Hà Lan tăng 50%, Hàn Quốc tăng 18%, Nhật Bản tăng 6%. Trung Quốc cũng là thị trường đứng đầu về thị phần xuất khẩu với gần 64%, tiếp đến là Mỹ, Hàn Quốc, Nhật Bản, Hà Lan…
Riêng mặt hàng sầu riêng, tiếp tục ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng. Chỉ trong vòng 8 tháng chính vụ, mặt hàng này đã xuất khẩu được hơn 1,28 tỷ USD, tăng hơn 700% so với cùng kỳ năm ngoái. Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu chính của Việt Nam, và chủ yếu sầu riêng tươi với giá trị 1,148 tỷ USD trong 8 tháng đầu năm 2023. Nhờ đó, sầu riêng nhanh chóng gia nhập nhóm trái cây tỷ đô.
Cùng với sầu riêng, xuất khẩu rau quả của Việt Nam còn có sự đóng góp của các mặt hàng như: Mít, xoài, vải, dưa hấu, bưởi, nhãn… Mới đây nhất, trái dừa đã được cấp “visa” sang Mỹ và cùng với việc đàm phán xuất khẩu chính ngạch các sản phẩm từ dừa sang Trung Quốc, thời gian tới trái dừa Việt Nam được kỳ vọng sẽ nhanh chóng trở thành mặt hàng tỷ USD. Những điều này góp phần nâng cao kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành rau quả thời gian tới.
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, năm 2023, ngành rau quả ghi nhận mức tăng trưởng kỷ lục, với 5,69 tỷ USD, tăng gần 70% so với năm 2022, vượt xa mục tiêu trước đó của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là năm 2024 sẽ đạt 4,5 tỷ USD, và đến năm 2025 là 5 tỷ USD. Hạt gạo Việt cũng tăng khi cán mốc 4,78 tỷ USD, tăng 38,4% so với năm 2022. Hạt điều đạt 331 tỷ USD, tăng 17,4% về giá trị và tăng 23,1% về lượng…
Tính chung cả năm 2023, Việt Nam đã xuất khẩu 8,3 triệu tấn gạo; 3 triệu tấn sắn và sản phẩm của sắn; 2,2 triệu tấn cao su; 1,6 triệu tấn cà phê, 0,6 triệu tấn hạt điều… Nhóm ngành rau quả đã giúp kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng nông, lâm sản trở thành nhóm hàng hoá duy nhất ghi nhận mức tăng trưởng dương trong cả năm 2023, với tổng giá trị kim ngạch xuất, nhập khẩu nhóm hàng nông sản, lâm sản ước đạt 28,15 tỷ USD, tăng 12,9% so với năm 2022.
Tính chung cả năm 2023, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa ước đạt 355,5 tỷ USD, giảm 4,4% so với năm trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 95,55 tỷ USD, giảm 0,3%, chiếm 26,9% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 259,95 tỷ USD, giảm 5,8%, chiếm 73,1%.
Trong năm 2023 có 35 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 93,6% tổng kim ngạch xuất khẩu (có 07 mặt hàng xuất khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 66%).
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Nhiều ngành hàng “lỡ hẹn” mục tiêu
Trái ngược với đà tăng mạnh của nhóm hàng xuất khẩu rau quả, trong suốt hành trình 12 tháng của năm 2023, nhiều nhóm ngành hàng cho thấy sự suy giảm mạnh. Trong đó đáng chú ý là nhóm hàng dệt may, gỗ, dầu và khoáng sản…
Là một trong những nhóm ngành chứng kiến sự sụt giảm đơn hàng nhiều nhất tính từ cuối năm 2022, ngành dệt may dù đã có những cải thiện trong những tháng cuối năm và khai phá thêm nhiều thị trường mới. Theo Hiệp hội Dệt may Việt Nam (Vitas), chưa khi nào Việt Nam xuất khẩu hàng dệt may sang nhiều thị trường như năm nay, tới 104 quốc gia và vùng lãnh thổ. Không chỉ đa dạng thị trường, các doanh nghiệp dệt may còn đa dạng mặt hàng. Theo đó đã có 36 mặt hàng dệt may Việt Nam được xuất đi khắp thế giới.
Bất chấp việc khai mở nhiều thị trường, dệt may Việt Nam vẫn gặp nhiều thách thức khi mà nhu cầu của thị trường chính là Mỹ vẫn còn yếu, nên toàn ngành vẫn tăng trưởng âm. Tính đến hết năm 2023 kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may đạt 40,3 tỷ USD, giảm 9,2% so năm 2022. Trong bối cảnh đó, đã có doanh nghiệp xuất khẩu lớn phải cắt giảm nhân sự, chẳng hạn như Garmex Sài Gòn tính đến đầu tháng 10/2023 chỉ còn 37 nhân sự (gần như ngừng hoạt động), giảm hơn 1.900 người so với cuối năm 2022 và hơn 3.700 người so với cuối năm 2021. Chia sẻ với báo chí mới đây, ông Phạm Xuân Hồng, Chủ tịch Hội Dệt may thêu đan Tp Hồ Chí Minh, cho biết đơn hàng đang trở lại nhưng số lượng nhỏ, yêu cầu khó hơn, thời gian ngắn hơn và giá thành bán ra thấp hơn.
Dù đã có những tín hiệu tích cực trong vài tháng gần đây, song theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, xuất khẩu gỗ và sản phẩm từ gỗ vẫn giảm tới 16,2%, cả năm 2023 toàn ngành gỗ đạt hơn 13,4 tỷ USD, thấp hơn so với kế hoạch đề ra khoảng gần 3 tỷ USD. Đáng chú nhất của ngành gỗ là sự suy giảm mạnh của xuất khẩu viên nén. Mục tiêu mà Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (Viforest) đã đề ra 1 tỷ USD trong năm 2023 đã không thể hoàn thành. Số liệu từ Viforest cho thấy giá trị xuất khẩu viên nén tháng 11/2023 chỉ đạt 58 triệu USD, luỹ kế 11 tháng đạt 597 triệu USD, giảm so với cùng kỳ năm 2022.
Theo chia sẻ của ông Trần Quốc Mạnh, Phó Chủ tịch Hiệp hội Xuất nhập khẩu thủ công mỹ nghệ Việt Nam, khách hàng yêu cầu các sản phẩm gỗ mẫu mã phải đa dạng, nhưng lượng mua, giá mua đều giảm. Chưa hết, nhà nhập khẩu cũng yêu cầu sản phẩm phải xanh và thân thiện với môi trường hơn. Đây là áp lực khiến cho nhiều doanh nghiệp vốn đang khó khăn càng trở nên khó khăn hơn.
Mặc dù có nhiều nhóm ngành hàng đang có những cải thiện về thị trường và đơn hàng, song do sự sụt giảm của những quý đầu năm quá lớn, nên nhiều nhóm ngành vẫn không thể hoàn thành mục tiêu đề ra. Dự báo ngành da giày năm nay chỉ mang về khoảng 19 tỷ USD, giảm gần 4 tỷ USD so với năm 2022. Niềm vui cũng chưa thể trở lại với nhóm thuỷ sản khi dự báo hết năm nay ngành này chỉ mang về khoảng 9 tỷ USD, thấp hơn 17% so với 2022 và không hoàn thành mục tiêu 10 tỷ USD.
Nhóm hàng nhiên liệu và khoáng sản cũng không mấy khả quan, khép lại năm 2023, nhóm ngành này ước đạt 4,61 tỷ USD, chỉ chiếm 1,3% trong cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu năm 2023. Hầu hết các mặt hàng trong nhóm này đều giảm mạnh, trong đó, dầu thô giảm 15,4%, than đá giảm 50,7%, xăng dầu giảm 7,4%, quặng và khoáng sản khác giảm 12,2%.
Những khó khăn từ suy giảm kinh tế toàn cầu, cầu thế giới suy giảm, đặc biệt là từ những tháng đầu năm dẫn đến đơn hàng xuất khẩu giảm đã ảnh hưởng đến kết quả xuất khẩu chung của cả nước trong năm 2023. Kết quả xuất khẩu cả năm đạt 683 tỷ USD, giảm 6,6% so với năm trước (năm 2022 đạt 732,5 tỷ USD). Tuy nhiên, do tốc độ giảm kim ngạch của nhập khẩu nhanh hơn xuất khẩu, nên cán cân thương mại hàng hóa năm 2023 vẫn thặng dư 28 tỷ USD, vượt xa con số 11,2 tỷ USD của năm 2022.
Khó khăn còn phía trước
Mặc dù hoạt động xuất khẩu đã có sự cải thiện tích cực trở lại trong những tháng cuối năm 2023, tuy nhiên đà phục hồi còn chậm và xu hướng này dự kiến sẽ còn tiếp tục trong thời gian tới. Các nền kinh tế lớn trên thế giới vẫn đang phải đối mặt với nhiều khó khăn trong việc lấy lại đà tăng trưởng, trong khi tiêu dùng toàn cầu chưa cho thấy sự phục hồi rõ nét. Trước tình hình đó, dự báo kinh tế toàn cầu năm 2024 tiếp tục đối mặt với những thách thức từ tăng trưởng yếu và lạm phát tăng cao, tăng trưởng dự kiến sẽ chậm lại chủ yếu do việc thắt chặt chính sách tiền tệ cần thiết được thực hiện trong hai năm qua.
Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) hồi cuối tháng 11, dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2024 dự kiến sẽ chậm lại ở mức 2,7%, thấp hơn mức tăng trưởng của năm 2023 (dự báo đạt 2,9%) và là mức tăng trưởng thấp nhất kể từ khi xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, không tính đến năm đầu tiên xảy ra đại dịch Covid-19.
Tại Mỹ, người tiêu dùng mặc dù mở rộng chi tiêu cho dịch vụ ăn uống, chăm sóc sức khỏe, nhưng giảm chi tiêu tại các cửa hàng điện tử, đồ gia dụng - vốn là những mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam; kinh tế Mỹ quý III mặc dù tăng 5,2% nhưng phục hồi chưa bền vững, tiềm ẩn rủi ro đến thị trường tài chính, tiền tệ toàn cầu trong những tháng cuối năm 2023 và năm 2024 (tháng 11, tổ chức xếp hạng Moody’s đã hạ triển vọng tín nhiệm của Mỹ từ “ổn định” xuống “tiêu cực”)….
Trong khi đó, nhiều báo cáo trong thời gian gần đây, Bộ Công Thương đề cập xu hướng dịch chuyển nguồn cung về gần thị trường tiêu thụ để giảm thiểu các rủi ro gián đoạn nguồn hàng ngày càng rõ nét trong việc đa dạng hóa nguồn cung của các thị trường xuất khẩu của Việt Nam.
Theo Bộ Công Thương, các tập đoàn đa quốc gia đang thực hiện chiến lược chuyển dịch chuỗi cung ứng, sản xuất đến gần với thị trường tiêu thụ (Near sourcing) và đa dạng hóa chuỗi cung ứng sản xuất (thay vì chỉ tập trung nhà máy sản xuất ở một số nước như Trung Quốc, Việt Nam). Các tập đoàn đa quốc gia đang tập trung đầu tư các nhà máy sản xuất ở một số nước như: Ấn Độ, Mexico, Braxin… làm gia tăng đối thủ cạnh tranh tại các thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam và ảnh hưởng trực tiếp đến thị phần của Việt Nam tại các thị trường này.
Ở góc độ nhóm ngành hàng, thực tế sẽ còn nhiều áp lực hơn khi nhu cầu từ các thị trường ngày càng khắt khe. Chẳng hạn với ngành dệt may, Chủ tịch Vitas, ông Vũ Đức Giang, cho rằng nhiều nhà mua hàng thế giới đã chuyển sang đặt hàng thiết kế thay vì đưa mẫu cho doanh nghiệp Việt Nam như nhiều năm trước. Đây cũng là thách thức với các doanh nghiệp dệt may Việt Nam trong việc chuyển từ gia công sang làm thiết kế. Không chỉ vậy, ngành dệt may cũng cần phải thay đổi theo hướng phát triển xanh, đây là thách thức không nhỏ, mặc dù ngành này đang có nhiều nỗ lực.
Với nhóm ngành rau quả, bên cạnh những yêu cầu về tiêu chuẩn cao của các thị trường khó tính như châu Âu, Hoa Kỳ hay Nhật Bản… thì Trung Quốc cũng đang ngày càng yêu cầu cao hơn về tiêu chuẩn với nhóm ngành này. Do đó, một số kinh nghiệm cho rằng doanh nghiệp luôn phải đổi mới về bao bì, thiết kế sản phẩm sao cho phù hợp với tiêu chuẩn kỹ thuật, văn hóa tiêu dùng, cùng với việc học hỏi, tìm hiểu kỹ nhu cầu, tiêu chuẩn chất lượng của thị trường. Hơn thế, doanh nghiệp phải giữ vững chất lượng, đáp ứng tốt yêu cầu thị trường nhưng cũng không ngừng đổi mới sáng tạo sản phẩm của mình để chinh phục thị trường rộng lớn này.
Ở cấp độ vĩ mô, để hỗ trợ mở rộng thị trường xuất khẩu, Bộ Công Thương sẽ đẩy mạnh đàm phán, ký kết các Hiệp định, cam kết, liên kết thương mại mới, ký kết các Hiệp định FTA, Hiệp định thương mại với các đối tác khác còn nhiều tiềm năng (UAE, MERCOSUR...) để đa dạng hóa thị trường.
Với thị trường Hoa Kỳ, Bộ Công Thương cho biết sẽ tập trung triển khai kịp thời, hiệu quả Đề án “Thúc đẩy công tác đề nghị Hoa Kỳ công nhận Việt Nam là quốc gia có nền kinh tế thị trường trong các vụ việc phòng vệ thương mại” tạo thuận lợi cho hàng hóa xuất khẩu của ta sang Hoa Kỳ; tiếp tục tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến tới cộng đồng doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng, các tổ chức, cá nhân liên quan về pháp luật phòng vệ thương mại, các vụ việc điều tra phòng vệ thương mại.
Bộ Công Thương cũng phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đàm phán với Trung Quốc mở cửa thêm thị trường xuất khẩu cho các mặt hàng rau quả khác của Việt Nam như bưởi da xanh, dừa tươi, bơ, dứa, vú sữa, chanh, dưa lưới… Nâng cao hiệu quả và điều tiết tốt tốc độ thông quan hàng hóa xuất nhập khẩu tại khu vực cửa khẩu thuộc biên giới giữa Việt Nam - Trung Quốc, đặc biệt là đối với các mặt hàng nông sản, thủy sản có tính chất thời vụ; chuyển nhanh, chuyển mạnh sang xuất khẩu chính ngạch.
Ngoài ra, Bộ Công Thương sẽ tăng cường cảnh báo sớm các vụ kiện phòng vệ thương mại; hướng dẫn doanh nghiệp cách ứng phó với các vụ kiện; kịp thời thông tin cho doanh nghiệp, Hiệp hội về nhu cầu, quy định mới… của thị trường.
Thái Đạt