Theo các chuyên gia, mặc dù nền kinh tế Việt Nam dự kiến sẽ đạt mức tăng trưởng vững chắc trong năm nay và có tốc độ cao hơn một chút trong năm tới, nhưng có một số rủi ro sụt giảm bên ngoài có thể cản trở đà tăng trưởng của Việt Nam.
Tỷ giá tăng phù hợp với xu hướng, chưa cần thiết bán ngoại tệ
Tại một buổi họp báo mới đây, đánh giá về biến động tỷ giá những tháng đầu năm, ông Nguyễn Bá Hùng, Chuyên gia kinh tế trưởng ADB tại Việt Nam nhận định, cần phải xác định rằng việc tỷ giá biến động là hết sức bình thường. Chính sách tỷ giá không thể đứng yên được, bởi không phụ thuộc hoàn toàn vào một nền kinh tế mà là diễn biến chung của kinh tế khu vực và thế giới.
Theo ông Nguyễn Bá Hùng, bản thân chỉ số USD Index (DXY) đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) từ đầu năm đến nay đã tăng khoảng 3%. "Do vậy, chưa tính đến các yếu tố khác, áp lực dẫn đến USD tăng so với VND trước tiên đến từ chính bản thân đồng USD," ông Hùng khẳng định.
Bên cạnh đó, đại diện của ADB cũng lý giải, biến động tỷ giá vừa qua liên quan đến yếu tố lịch sử, mùa vụ của thị trường Việt Nam. Thông thường vào quý đầu năm cầu ngoại tệ cũng sẽ tăng, là hệ quả do kết thúc năm tài chính và những nhu cầu như đầu tư, cất trữ ngoại tệ của người dân.
Theo ông Nguyễn Bá Hùng, diễn biến tỷ giá thời gian qua là phù hợp với xu hướng chung và nằm trong biên độ của Ngân hàng Nhà nước. Đà tăng tỷ giá chưa đến mức phải sử dụng công cụ bán ngoại tệ để can thiệp.
Đầu tư công vẫn là một động lực cho tăng trưởng kinh tế của Việt Nam.
Thông tin thêm về kinh tế Việt Nam, ông Nguyễn Bá Hùng đánh giá, đầu tư công vẫn là một động lực cho tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, và việc triển khai hiệu quả đầu tư công có ý nghĩa quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng.
Chuyên gia của ADB đánh giá cao những nỗ lực thúc đẩy tăng trưởng của Chính phủ, trong đó đặt ra yêu cầu khá cao là phải hoàn thành giải ngân 95% trong năm nay. Đây là hướng đúng vì đầu tư công là một đầu tàu quan trọng của tăng trưởng kinh tế, không chỉ thúc đẩy các hoạt động phục vụ cho dự án mà còn mang lại các tác động lan tỏa, giúp hoạt động kinh tế sôi động hơn sau khi công trình hoàn thành.
Tuy nhiên, đại diện ADB lưu ý, vấn đề là cần hiện thực hóa các kế hoạch để đầu tàu này phát huy sức mạnh. Mặc dù Chính phủ đã thực hiện nhiều biện pháp nhằm đẩy nhanh đầu tư công và nâng cao hiệu quả thực thi, nhưng vẫn cần có các biện pháp mang tính hệ thống hơn nhằm cải thiện các quy trình pháp lý và quy định giảm bớt rào cản cho việc thực hiện dự án hiệu quả.
Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, mức tăng 1% trong giải ngân vốn đầu tư công tương ứng với mức tăng 0,058% GDP. Ngoài ra, cứ 1 đồng vốn đầu tư công được giải ngân sẽ kích thích 1,61 đồng vốn đầu tư từ khu vực ngoài nhà nước. Tuy nhiên, tỷ lệ thực hiện so với kế hoạch luôn ở mức thấp, dao động quanh 80% trong năm. Mặc dù chính phủ nỗ lực giải quyết vấn đề này, nhưng tiến triển đạt được là chưa đủ.
Thứ nhất, các dự án được phê duyệt với ngân sách được phân bổ đôi khi chưa sẵn sàng để triển khai, gây ra tình trạng chậm trễ kéo dài. Một cách tiếp cận có hệ thống nhằm cải thiện tính sẵn sàng của dự án có thể gia tăng đáng kể hiệu quả thực hiện. Nhiều dự án đòi hỏi hoạt động chuẩn bị cơ bản, như nghiên cứu khả thi, thu xếp giải phóng mặt bằng và chuẩn bị mua sắm đấu thầu song song với thủ tục phê duyệt dự án. Dự án có tính sẵn sàng cao để đẩy nhanh tiến độ triển khai sẽ giúp giảm thiểu tình trạng đội vốn.
Thứ hai, các dự án đôi khi cần thay đổi thiết kế hoặc ngân sách ngay cả sau khi được phê duyệt và phân bổ ngân sách. Điều này có thể gây gián đoạn kéo dài trước khi có thể bắt đầu hoạt động dự án. Một trở ngại lớn cho việc chuẩn bị các dự án kịp thời và có chất lượng là sự phức tạp của các quy định, đặc biệt là quy hoạch sử dụng đất, thu hồi đất và giải phóng mặt bằng. Sự cứng nhắc này là một thách thức quan trọng trong tình huống thị trường có biên động.
Giá cả tăng cao do thiếu nguyên liệu và đầu vào cho sản xuất – xảy ra do những hạn chế pháp lý - dẫn đến chi phí cao hơn, buộc phải đàm phán lại hợp đồng hoặc cần thêm kinh phí và phê duyệt bổ sung; cần phải sửa đổi các quy định để cho phép sự linh hoạt dựa trên nguyên tắc và điều chỉnh phù hợp với mục đích, như một phần của việc cải thiện các thủ tục trong chu trình dự án. Điều này sẽ tạo thuận lợi cho việc phê duyệt và quản lý dự án hiệu quả, có thể điều chỉnh phù hợp với nhiều tình huống khác nhau mà không phải lặp lại quy trình phê duyệt. Việc tăng cường năng lực của cán bộ phụ trách đầu tư công ở cấp tỉnh và địa phương cũng rất quan trọng để cải thiện chất lượng chuẩn bị dự án.
Thứ ba, sự phối hợp yếu kém giữa đầu tư công và quy trình ngân sách dẫn tới phân bổ ngân sách chậm và không đủ. Trong những năm gần đây, báo cáo cho thấy các cơ quan trung ương nhận được nguồn vốn phân bổ cao hơn so với mức đề xuất, trong khi các tỉnh nhận được quá ít so với nhu cầu. Thách thức cấp bách từ sự chênh lệch giữa ngân sách được phân bổ và nhiệm vụ đầu tư thường dẫn tới việc thiếu hụt ngân sách và chậm trễ trong triển khai dự á. Ngân sách có thể không được phân bổ một cách tối ưu cho những lĩnh vực ưu tiên đã xác định, dẫn đến không tận dụng tối đa hiệu quả nguồn lực. Điều này làm hạn chế tiến độ dự án và hiệu quả sử dụng vốn.
Chính phủ đã áp dụng các biện pháp nhằm nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và trách nhiệm giải trình trong phân bổ và giải ngân ngân sách. Điều này thúc đẩy sự phối hợp tốt hơn giữa chính quyền trung ương và địa phương, xác định ưu tiên cho dự án dựa trên tác động và tính sẵn sàng, đồng thời thực hiện các cơ chế giám sát nghiêm ngặt để bảo đảm sử dụng vốn hiệu quả với hiệu suất cao.
Tuy nhiên, hiệu quả của các biện pháp này dường như bị hạn chế. Sự chênh lệch giữa năng lực thực thi ở các cấp chính quyền khác nhau cho thấy rõ sự cần thiết phải tăng cường quy trình phân bổ vốn và xây dựng năng lực của chính quyền địa phương. Việc phân cấp nhiệm vụ đầu tư công và trách nhiệm tài khóa đang diễn ra đã bộc lộ những điểm yếu trong việc giải quyết các thách thức liên tỉnh hoặc liên vùng. Quy trình ngân sách nên được điều chỉnh để cho phép sự linh hoạt, mà sẽ hiệu quả hơn ở cấp bất kỳ (trung ương hoặc tỉnh).
Năm 2024, đầu tư công sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ nền kinh tế. Sau khi Quốc hội phê duyệt ngân sách, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt kế hoạch phân bổ 688,5 nghìn tỷ đồng để tiếp tục xây dựng cơ sở hạ tầng và thúc đẩy phát triển kinh tế. Chính phủ đã thực hiện nhiều biện pháp chính sách khác nhau để đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công và nâng cao hiệu quả thực thi. Những biện pháp này bao gồm một loạt các nghị quyết và chỉ thị tập trung vào các khía cạnh khác nhau của giải ngân vốn đầu tư công.
"Tuy nhiên, để duy trì tiến độ, cần có các biện pháp mang tính hệ thống hơn nhằm cải thiện các quy trình pháp lý và quy định để có thể thực hiện thành công. Bằng cách chủ động khắc phục những trở ngại này một cách toàn diện, Việt Nam có thể phát huy tối đa tiềm năng của các sáng kiến đầu tư công, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững" chuyên gia của ADB khuyến nghị.
Ông Nguyễn Bá Hùng, Chuyên gia kinh tế trưởng ADB tại Việt Nam.
Một số rủi ro có thể cản đà tăng trưởng kinh tế Việt Nam
Theo ông Nguyễn Bá Hùng, triển vọng tổng thể của kinh tế Việt Nam trong năm 2024 là vừa lạc quan, vừa thận trọng nhờ có sự phục hồi tương đối toàn diện ở các ngành, chính sách tiền tệ và tài khóa hỗ trợ.
Mặc dù nền kinh tế Việt Nam dự kiến sẽ đạt mức tăng trưởng vững chắc trong năm nay và có tốc độ cao hơn một chút trong năm tới, nhưng có một số rủi ro sụt giảm bên ngoài có thể cản trở đà tăng trưởng của Việt Nam.
Một trong những rủi ro, theo ông Nguyễn Bá Hùng, là nhu cầu toàn cầu suy yếu do tốc độ phục hồi kinh tế chậm ở các nước là đối tác thương mại lớn của Việt Nam và căng thẳng địa chính trị quốc tế vẫn đang tiếp diễn. Cả 2 yếu tố này sẽ làm chậm quá trình phục hồi tăng trưởng chế biến xuất khẩu của Việt Nam.
Rủi ro tiếp theo là việc trì hoãn bình thường hóa lãi suất tại thị trường Mỹ và các thị trường phát triển khác. Điều này sẽ tiếp tục gây áp lực lên tỷ giá hối đoái.
Bên cạnh đó, tốc độ tăng trưởng chậm lại của nền kinh tế Việt Nam trong năm vừa qua đã bộc lộ những nguy cơ dễ đổ vỡ của cấu trúc trong nước. Chẳng hạn như sự phụ thuộc vào chế biến xuất khẩu do các doanh nghiệp FDI làm đầu tàu, thị trường vốn còn non trẻ mà hiện tại rất cần thiết phải phát triển hơn nữa, sự phụ thuộc quá mức vào tín dụng ngân hàng và các yếu tố khác…
Nếu những rủi ro này được giải quyết kịp thời thì Việt Nam có thể đạt được mức tăng trưởng mạnh mẽ hơn.
“Kinh tế Việt Nam được kỳ vọng tăng trưởng với nhịp độ vững chắc trong năm nay và năm tới, bất chấp môi trường toàn cầu còn nhiều thách thức. Tuy nhiên, những bất ổn địa chính trị toàn cầu và các hạn chế mang tính cơ cấu của kinh tế trong nước có thể ảnh hưởng đến triển vọng này. Do đó, các biện pháp chính sách trong năm 2024 sẽ cần kết hợp các biện pháp hỗ trợ tăng trưởng ngắn hạn để đẩy mạnh nhu cầu trong nước với các giải pháp cải thiện cơ cấu trong dài hạn nhằm thúc đẩy tăng trưởng bền vững”- Giám đốc quốc gia ADB tại Việt Nam ông Shantanu Chakraborty nhấn mạnh.
Dưới góc độ của Viện Kinh tế Việt Nam, Tiến sỹ Lê Xuân Sang đồng tình với quan điểm nhiều chỉ tiêu kinh tế thời gian qua đã có xu hướng phục hồi nhưng còn nhiều thách thức.
"Sự phục hồi của khu vực doanh nghiệp, ngân hàng thương mại, lĩnh vực bất động sản, thị trường tài chính vẫn chưa rõ nét, tiềm ẩn nhiều rủi ro. Hiệu quả và nghệ thuật gỡ rối cho thị trường bất động sản, trái phiếu doanh nghiệp và nợ xấu ngân hàng là điều kiện tiên quyết để phục hồi vững chắc nền kinh tế" Tiến sỹ Lê Xuân Sang chỉ ra vấn đề.
Hồng Quang