Sản xuất công nghiệp, xuất khẩu và tiêu dùng trong nước cùng duy trì đà tăng trong 9 tháng năm 2026, tạo nền tảng thuận lợi cho chặng cuối năm. Tuy nhiên, sự chênh lệch giữa doanh nghiệp nội địa và khu vực FDI, cùng sức ép từ chi phí đầu vào, logistics và các tiêu chuẩn thị trường ngày càng khắt khe, đang đòi hỏi ngành Công Thương nâng sức cạnh tranh và gia tăng giá trị trong nước.
Động lực tăng trưởng lớn nhưng sức lan tỏa còn chưa đồng đều
Theo thông tin tại họp báo thường kỳ của Bộ Công Thương, hoạt động sản xuất, thương mại và năng lượng trong 9 tháng năm 2026 tiếp tục duy trì xu hướng tích cực. Trong đó, công nghiệp và xuất khẩu là hai động lực đáng chú ý, song các chỉ số cũng cho thấy dư địa cải thiện về chất lượng và mức độ lan tỏa của tăng trưởng.
Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 9 tăng 16,65% so với cùng kỳ năm trước; tính chung 9 tháng tăng 12,33%. Đáng chú ý, tốc độ tăng trưởng công nghiệp được cải thiện qua các quý, từ 10,5% trong quý I lên 11,2% trong quý II và 14,8% trong quý III. Công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vai trò quan trọng khi tăng 12,93% trong 9 tháng.
Những kết quả này cho thấy năng lực sản xuất đang được mở rộng, nhưng chưa thể xem mức tăng chung là thước đo đầy đủ về sức khỏe của toàn ngành. Theo thông tin được Bộ Công Thương nêu, tốc độ tăng trưởng giữa các địa phương chưa đồng đều, trong khi một số trung tâm công nghiệp lớn vẫn chưa đạt mục tiêu đề ra. Vì vậy, yêu cầu trong quý IV không chỉ là duy trì nhịp tăng cao mà còn phải củng cố các khu vực, địa bàn chưa phát huy hết năng lực sản xuất.
Duy trì năng lực sản xuất và nâng cao giá trị hàng hóa trong nước là những yêu cầu quan trọng đối với ngành công nghiệp trong quý IV/2026.
Xuất khẩu cũng tiếp tục đóng góp đáng kể vào tăng trưởng. Kim ngạch xuất khẩu 9 tháng tăng 24,5%, riêng tháng 9 tăng 39,1%, với sự đóng góp đáng kể của nhóm máy móc, thiết bị và điện tử. Tuy nhiên, cơ cấu xuất khẩu cho thấy sự khác biệt lớn giữa hai khu vực doanh nghiệp.
Cụ thể, khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chiếm 80,6% tổng kim ngạch xuất khẩu và tăng 29,2%, trong khi khu vực doanh nghiệp trong nước tăng 8,1%. Khoảng cách này đặt ra vấn đề về mức độ tham gia của doanh nghiệp nội địa vào chuỗi cung ứng xuất khẩu, cũng như khả năng giữ lại giá trị gia tăng trong nền kinh tế.
Xuất khẩu tăng nhanh có thể tạo thêm đơn hàng và thúc đẩy sản xuất, nhưng tác động lan tỏa sẽ hạn chế nếu doanh nghiệp trong nước chưa tham gia sâu vào các khâu cung ứng nguyên liệu, linh kiện, dịch vụ và chế biến có giá trị cao. Bởi vậy, hỗ trợ doanh nghiệp nội địa nâng năng lực sản xuất, đáp ứng yêu cầu của các đối tác và kết nối hiệu quả hơn với khu vực FDI là một trong những hướng quan trọng để tăng trưởng thương mại tạo ra lợi ích rộng hơn.
Ở chiều nhập khẩu, kim ngạch 9 tháng tăng 36,7%; khoảng 90,5% giá trị nhập khẩu là máy móc, thiết bị, nguyên nhiên vật liệu phục vụ sản xuất và gia công hàng xuất khẩu. Cơ cấu này phản ánh nhu cầu đầu vào của nền kinh tế tăng lên, đồng thời cho thấy hoạt động sản xuất có mức độ gắn kết đáng kể với nguồn cung bên ngoài.
Nhập khẩu phục vụ sản xuất có thể hỗ trợ mở rộng công suất và đáp ứng đơn hàng, nhưng cũng khiến doanh nghiệp chịu tác động từ biến động giá nguyên liệu, chi phí vận chuyển và gián đoạn chuỗi cung ứng. Trong bối cảnh đó, khả năng kiểm soát chi phí, đa dạng hóa nguồn cung và nâng tỷ lệ nội địa hóa sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam.
Quý IV cần tháo điểm nghẽn và nâng chất lượng tăng trưởng
Bên cạnh sản xuất và xuất khẩu, thị trường trong nước tiếp tục là một trụ đỡ quan trọng. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 9 tháng đạt 5.925,7 nghìn tỷ đồng, tăng 13,4% so với cùng kỳ; riêng quý III tăng khoảng 14,5%.
Tuy nhiên, theo nội dung được cung cấp, tăng trưởng thị trường vẫn nhận được sự hỗ trợ đáng kể từ nhóm dịch vụ. Để sức mua trở thành động lực rõ nét hơn đối với sản xuất hàng hóa, cần tiếp tục thúc đẩy hoạt động kết nối cung - cầu, bảo đảm nguồn hàng và hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm trong nước, nhất là trong giai đoạn nhu cầu thường tăng vào cuối năm.
Về năng lượng, điện sản xuất và nhập khẩu trong 9 tháng đạt 266,58 tỷ kWh, tăng 9,65%. Tỷ lệ dự phòng công suất nguồn được thông tin ở mức khoảng 26%, cao hơn mục tiêu 21,8%; nguồn cung xăng dầu cũng được bảo đảm trong bối cảnh giá năng lượng thế giới biến động. Đây là điều kiện quan trọng để duy trì hoạt động sản xuất, song việc bảo đảm nguồn cung cần tiếp tục gắn với yêu cầu vận hành ổn định của hệ thống và kiểm soát chi phí năng lượng đối với doanh nghiệp.
Bước vào quý IV, Bộ Công Thương xác định các nhiệm vụ trọng tâm gồm tháo gỡ khó khăn về đơn hàng và nguyên liệu, đẩy nhanh các dự án công nghiệp lớn có khả năng tạo thêm sản lượng, đồng thời bảo đảm cung ứng điện và nhiên liệu cho sản xuất. Hiệu quả thực hiện những nhiệm vụ này sẽ tác động đến khả năng duy trì công suất, đáp ứng nhu cầu thị trường và tận dụng cơ hội tăng trưởng trong những tháng cuối năm.
Với hoạt động xuất khẩu, việc khai thác hiệu quả các hiệp định thương mại tự do (FTA), mở rộng thị trường và hỗ trợ doanh nghiệp ứng phó với các biện pháp phòng vệ thương mại tiếp tục có ý nghĩa quan trọng. Tuy nhiên, lợi thế từ các FTA không đồng nghĩa hàng hóa đương nhiên được tiếp cận thuận lợi tại mọi thị trường. Doanh nghiệp vẫn cần đáp ứng quy tắc xuất xứ, yêu cầu về chất lượng, truy xuất nguồn gốc và các tiêu chuẩn môi trường áp dụng đối với từng mặt hàng, thị trường cụ thể.
Điều đó đòi hỏi hoạt động hỗ trợ xuất khẩu phải đi cùng với việc nâng cao năng lực tuân thủ của doanh nghiệp. Đầu tư vào công nghệ, chất lượng sản phẩm, quản trị chuỗi cung ứng và minh bạch thông tin không chỉ giúp hạn chế rủi ro khi tiếp cận thị trường mà còn góp phần nâng giá trị của hàng hóa Việt Nam.
Nhìn tổng thể, kết quả 9 tháng tạo cơ sở tích cực để ngành Công Thương hướng tới mục tiêu cả năm, nhưng chặng cuối vẫn tiềm ẩn nhiều sức ép. Tăng trưởng công nghiệp cần được củng cố bằng năng lực sản xuất thực chất; xuất khẩu cần tăng mức độ tham gia của doanh nghiệp trong nước; còn tiêu dùng nội địa cần tạo lực cầu bền vững hơn đối với hàng hóa sản xuất trong nước.
Quý IV vì vậy không chỉ là giai đoạn quyết định tốc độ tăng trưởng cả năm, mà còn là phép thử đối với khả năng tháo gỡ điểm nghẽn và nâng sức cạnh tranh của nền kinh tế. Hiệu quả điều hành cần được nhìn nhận qua khả năng duy trì sản xuất, mở rộng thị trường và gia tăng giá trị trong nước, thay vì chỉ dựa vào mức tăng của các chỉ số tổng hợp.
Thanh Phong