10:55 24/04/2025

Đánh giá rủi ro thủy sản Việt Nam bị điều tra phòng vệ thương mại tại EU

EU là một thành viên WTO tích cực sử dụng các biện pháp phòng vệ thương mại, đặc biệt là chống bán phá giá. Các mặt hàng thủy sản chưa phải là đối tượng thường xuyên bị EU tiến hành điều tra, áp dụng biện pháp chống bán phá giá. Các nhóm hàng liên quan đến thủy sản như động vật sống và sản phẩm động vật, thực phẩm cũng là những nhóm hàng ít bị EU tiến hành điều tra, áp dụng biện pháp phòng vệ thươ

Xu hướng áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại của Liên minh châu Âu (EU)

Biện pháp phòng vệ thương mại là các công cụ chính sách thương mại được các thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) áp dụng nhằm bảo vệ ngành sản xuất trong nước của mình trước những tác động tiêu cực từ hàng nhập khẩu, đặc biệt khi hàng hóa nhập khẩu có sự cạnh tranh không công bằng, gây ra thiệt hại đáng kể đối với ngành sản xuất trong nước.

Giống như nhiều thành viên phát triển khác của WTO, Liên minh châu Âu (EU) sử dụng ba biện pháp phòng vệ thương mại chính để bảo vệ ngành sản xuất nội khối trước các tác động tiêu cực từ hàng hóa nhập khẩu, đó là biện pháp chống bán phá giá, biện pháp chống trợ cấp và biện pháp tự vệ.

EU là một thành viên WTO tích cực sử dụng các biện pháp phòng vệ thương mại, đặc biệt là chống bán phá giá. Theo số liệu thống kê của WTO, tính đến tháng 6/2024, EU đã tiến hành điều tra tổng cộng 564 vụ việc chống bán phá giá, 98 vụ việc chống trợ cấp và 6 vụ việc tự vệ. Trên cơ sở kết quả điều tra, EU đã áp dụng 368 biện pháp chống bán phá giá, 49 biện pháp chống trợ cấp và 4 biện pháp tự vệ.

Đánh giá rủi ro thủy sản Việt Nam bị điều tra phòng vệ thương mại tại EU

Xét theo ngành hàng, các nhóm hàng nhập khẩu bị áp dụng biện pháp chống bán phá nhiều nhất là kim loại và sản phẩm kim loại (155 biện pháp), hóa chất (71 biện pháp), máy móc và thiết bị điện (34 biện pháp), cao su và chất dẻo (23 biện pháp), dệt may (23 biện pháp).

Các mặt hàng thủy sản chưa phải là đối tượng thường xuyên bị EU tiến hành điều tra, áp dụng biện pháp chống bán phá giá. Các nhóm hàng liên quan đến thủy sản như động vật sống và sản phẩm động vật, thực phẩm cũng là những nhóm hàng ít bị EU tiến hành điều tra, áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại.

Xét theo quốc gia và vùng lãnh thổ xuất khẩu, Trung Quốc là quốc gia có các doanh nghiệp bị EU tiến hành điều tra, áp dụng biện pháp chống bán phá giá nhiều nhất với 116 biện pháp, chiếm 31,6% tổng số biện pháp. Tiếp theo sau là Nga (25 biện pháp), Ấn Độ (23 biện pháp), Thái Lan (19 biện pháp), In-đô-nê-xi-a (17 biện pháp). Cho đến nay, các doanh nghiệp Việt Nam mới chỉ là đối tượng 4 biện pháp chống bán phá giá do EU áp dụng.

Mặc dù tuân thủ theo các nguyên tắc chung về điều tra, áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại được quy định tại các hiệp định của WTO, EU cũng có những quy định riêng mang tính chất đặc thù, tạo ra sự khác biệt giữa cơ chế phòng vệ thương mại của EU với cơ chế phòng vệ thương mại của các thành viên WTO khác. Các quy định này bao gồm việc xác định nền kinh tế phi thị trường (non-market economies) và tình hình thị trường đặc biệt (particular market situation), nguyên tắc thuế thấp hơn (lesser duty rule), yêu cầu xem xét lợi ích của liên minh (Union interest), cơ chế hoàn thuế và cơ chế giải quyết tranh chấp.

Mức độ rủi ro bị điều tra phòng vệ thương mại đối với các mặt hàng thủy sản tại thị trường EU chưa cao

Theo số liệu thống kê từ cơ sở dữ liệu của S&P Global, tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang EU năm 2024 đạt 881 triệu USD. Các mặt hàng thủy sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang thị trường EU bao gồm tôm nước ấm đông lạnh, phi-lê cá tra đông lạnh, tôm đã chế biến, nhuyễn thể hai mảnh vỏ chế biến, cá ngừ chế biến và phi-lê cá ngừ. Tổng kim ngạch xuất khẩu sáu nhóm sản phẩm này đạt 763 triệu USD, chiếm đến 88% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang EU năm 2024.

Kim ngạch xuất khẩu tôm nước ấm đông lạnh của Việt Nam sang EU năm 2024 đạt 237 triệu USD, tăng 5,4% so với năm 2023. Khối lượng xuất khẩu đạt 27.587 tấn, chiếm tỷ trọng 5,8% trong tổng nhập khẩu của EU.

Kim ngạch xuất khẩu phi-lê cá tra đông lạnh của Việt Nam sang EU năm 2024 đạt 157 triệu USD, giảm 0,7% so với năm 2023. Khối lượng xuất khẩu đạt 55.784 tấn, chiếm tỷ trọng 99,8% trong tổng nhập khẩu của EU.

Kim ngạch xuất khẩu tôm đã chế biến (bảo quản và không bảo quản trong túi kín) của Việt Nam sang EU năm 2024 đạt 184 triệu USD, tăng 14,9% so với năm 2023. Khối lượng xuất khẩu đạt 23.381 tấn, chiếm tỷ trọng 29,4% trong tổng nhập khẩu của EU.

Kim ngạch xuất khẩu nhuyễn thể hai mảnh vỏ đã chế biến của Việt Nam sang EU năm 2024 đạt 64 triệu USD, tăng 8,3% so với năm 2023. Khối lượng xuất khẩu đạt 38.416 tấn, chiếm tỷ trọng 86,7% trong tổng nhập khẩu của EU.

Kim ngạch xuất khẩu cá ngừ đã chế biến của Việt Nam sang EU năm 2024 đạt 65 triệu USD, giảm 4,3% so với năm 2023. Khối lượng xuất khẩu đạt 13.886 tấn, chiếm tỷ trọng 3% trong tổng nhập khẩu của EU.

Kim ngạch xuất khẩu phi-lê cá ngừ của Việt Nam sang EU năm 2024 đạt 55 triệu USD, tăng 10,1% so với năm 2023. Khối lượng xuất khẩu đạt 6.133 tấn, chiếm tỷ trọng 20,7% trong tổng nhập khẩu của EU.

Đánh giá rủi ro thủy sản Việt Nam bị điều tra phòng vệ thương mại tại EU

Theo Cục Phòng vệ thương mại, Bộ Công Thương, mức độ rủi ro bị điều tra phòng vệ thương mại của một mặt hàng xuất khẩu được đánh giá dựa trên các yếu tố sau:

Sự tồn tại của ngành sản xuất trong nước tại nước nhập khẩu và quy mô của ngành sản xuất trong nước đó: ngành sản xuất trong nước có quy mô càng lớn thì càng dễ có rủi ro họ sử dụng các công cụ phòng vệ thương mại để bảo vệ lợi ích của mình.

Thị phần của hàng xuất khẩu tại thị trường nhập khẩu: hàng xuất khẩu có tỷ trọng đáng kể trong tổng nhập khẩu của thị trường và có thị phần lớn thì có rủi ro cao hơn.

Tốc độ gia tăng kim ngạch và khối lượng xuất khẩu: các mặt hàng có tốc độ gia tăng kim ngạch và khối lượng xuất khẩu nhanh sẽ tạo ra nhiều sức ép cạnh tranh đối với ngành sản xuất trong nước tại thị trường nhập khẩu, vì vậy dễ có khả năng họ phải sử dụng các công cụ phòng vệ thương mại để bảo vệ lợi ích của mình.

Tần suất điều tra phòng vệ thương mại của thị trường nhập khẩu: một số thị trường nhập khẩu có xu hướng tích cực sử dụng các biện pháp phòng vệ thương mại để bảo vệ ngành sản xuất trong nước của mình.

Tần suất điều tra phòng vệ thương mại đối với một ngành hàng cụ thể: một số ngành hàng có tần suất bị điều tra phòng vệ thương mại cao hơn các ngành hàng khác.

Đối chiếu với các tiêu chí trên, tại thời điểm hiện tại có thể đánh giá mức độ rủi ro bị điều tra phòng vệ thương mại đối với các mặt hàng thủy sản tại thị trường EU chưa cao. Cụ thể, mặc dù EU là thị trường thường xuyên xảy ra các vụ việc điều tra phòng vệ thương mại đối với hàng nhập khẩu nhưng nhóm hàng thủy sản nói chung không phải là trọng tâm trong các cuộc điều tra phòng vệ thương mại của EU. Bên cạnh đó, các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam cũng không thường xuyên trở thành đối tượng điều tra phòng vệ thương mại tại thị trường này.

Trong số các mặt hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam, một số mặt hàng như tôm chế biến, nhuyễn thể hai mảnh vỏ, phi-lê cá ngừ là những mặt hàng có phân khúc nhỏ trong thị trường thủy sản EU nói chung, vì vậy ít có khả năng có các doanh nghiệp đủ lớn để đại diện cho ngành sản xuất nội khối của EU đứng ra yêu cầu điều tra, áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại. Đối với cá tra, EU không có ngành sản xuất nội khối. Đối với tôm đông lạnh và cá ngừ chế biến, tỷ trọng nhập khẩu từ Việt Nam và thị phần của hàng Việt Nam tại thị trường EU còn nhỏ, do đó các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam chưa phải là nhân tố có thể ảnh hưởng lớn đến cạnh tranh trên thị trường.

Trong những năm qua, kim ngạch và khối lượng xuất khẩu các mặt hàng thủy sản của Việt Nam sang EU có sự biến động lớn. Sau khi tăng vọt trong năm 2022, xuất khẩu của Việt Nam giảm mạnh trong năm 2023. Năm 2024, xuất khẩu tuy có sự phục hồi nhưng tất cả các mặt hàng vẫn chưa khôi phục lại mức đã đạt được của năm 2022.

Kinh nghiệm từ việc Hoa Kỳ áp dụng thuế chống bán phá giá đối với cá tra, cá ba sa Việt Nam

Hoa Kỳ chính thức áp dụng thuế chống bán phá giá đối với cá tra và cá ba sa (pangasius) đông lạnh nhập khẩu từ Việt Nam vào năm 2003. Quyết định này được đưa ra sau khi Hiệp hội Nuôi cá da trơn Hoa Kỳ (Catfish Farmers of America - CFA) đệ đơn kiện lên Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC) vào tháng 6/2002, cáo buộc rằng các nhà sản xuất Việt Nam bán sản phẩm với giá thấp hơn giá trị thực tế, gây thiệt hại cho ngành nuôi cá da trơn nội địa của Hoa Kỳ.

Sau quá trình điều tra, DOC xác định rằng các sản phẩm cá tra và cá ba sa từ Việt Nam được bán phá giá tại thị trường Hoa Kỳ. Kết quả là, vào tháng 1 năm 2003, DOC áp dụng mức thuế chống bán phá giá dao động từ 37% đến 64% đối với các sản phẩm này. Quyết định này được Ủy ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ (USITC) phê chuẩn vào tháng 7 năm 2003.​

Việc áp dụng thuế chống bán phá giá đã ảnh hưởng đáng kể đến xuất khẩu cá tra và cá ba sa của Việt Nam sang Hoa Kỳ, khiến khối lượng xuất khẩu giảm mạnh trong những năm sau đó. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn tiếp tục xuất khẩu các sản phẩm này sang Hoa Kỳ, đồng thời tham gia vào các cuộc rà soát hành chính hàng năm do DOC tiến hành để điều chỉnh mức thuế suất áp dụng cho từng doanh nghiệp cụ thể.​ Mức thuế chống bán phá giá mà Hoa Kỳ áp dụng đối với các doanh nghiệp Việt Nam do đó được giảm dần. Trong 5 kỳ rà soát gần đây nhất (từ kỳ rà soát lần thứ 16 đến kỳ rà soát lần thứ 20), mức thuế chống bán phá giá thấp nhất đối với một số doanh nghiệp Việt Nam là 0 USD/kg. Riêng tại kỳ rà soát lần thứ 20, đã có 8 doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam được hưởng mức thuế này.

Song song với nỗ lực của các doanh nghiệp, sau thời gian cân nhắc, năm 2018 chính phủ Việt Nam đã quyết định sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO để khiếu nại biện pháp của Hoa Kỳ. Nội dung khiếu nại của Việt Nam xoay quanh phương pháp tính toán thuế chống bán phá giá của Hoa Kỳ và việc tuân thủ các nguyên tắc minh bạch, công bằng theo quy định của WTO. Việt Nam cho rằng Hoa Kỳ đã không thực hiện đúng các quy định về chống bán phá giá, dẫn đến việc áp thuế sai lệch và không công bằng đối với cá phi lê xuất khẩu từ Việt Nam.

Sau thời gian đánh giá, Ban Hội thẩm của WTO đã hoàn thành báo cáo vào tháng 2/2020. Tuy nhiên, thay vì đồng ý công bố báo cáo theo quy định, Việt Nam và Hoa Kỳ cùng thống nhất hoãn thời điểm công bố và tiếp tục duy trì kênh trao đổi song phương để tìm kiếm một thỏa thuận phù hợp với lợi ích của cả hai bên. Sau quá trình trao đổi, tháng 1/2025, hai bên đã đạt được thỏa thuận song phương, chấm dứt tranh chấp, khép lại vụ việc tại WTO.

Đánh giá rủi ro thủy sản Việt Nam bị điều tra phòng vệ thương mại tại EU

Mặc dù thủy sản được đánh giá là ngành hàng xuất khẩu có độ rủi ro thấp về điều tra phòng vệ thương mại khi xuất khẩu sang thị trường EU, các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản cũng cần có sự chuẩn bị nếu như phát sinh vụ việc điều tra mới trong tương lai tại thị trường này. Cục phòng vệ thương mại cho biết kinh nghiệm của các doanh nghiệp xuất khẩu cá tra, cá ba sa trong quá trình xử lý vụ việc Hoa Kỳ điều tra, áp dụng biện pháp chống bán phá giá đối với mặt hàng này là một trong những bài học quý giá để các doanh nghiệp thủy sản nói chung có thể áp dụng. Từ kinh nghiệm trong xử lý vụ việc với Hoa Kỳ cũng như căn cứ theo các quy định của EU, các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản sang thị trường này cần lưu ý những vấn đề sau:

Xác định mức độ rủi ro phòng vệ thương mại đối với mặt hàng xuất khẩu: Mức độ rủi ro này có thể thay đổi tùy theo bối cảnh thời gian. Trên cơ sở các tiêu chí đã đưa ra ở trên, trong từng giai đoạn cụ thể các doanh nghiệp có thể xác định được mức độ rủi ro đối với mặt hàng xuất khẩu của mình, từ đó có sự điều chỉnh chiến lược kinh doanh phù hợp như đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, xem xét lại chính sách giá và chính sách bán hàng.

Có hiểu biết cơ bản về phòng vệ thương mại: các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản cần tìm hiểu và có hiểu biết cơ bản về quy trình điều tra phòng vệ thương mại của EU và xác định được vai trò của mình trong trường hợp phát sinh vụ việc phòng vệ thương mại.

Chủ động hợp tác với cơ quan điều tra: Bài học từ vụ việc của Hoa Kỳ cho thấy các doanh nghiệp cần chủ động hợp tác với cơ quan điều tra, đáp ứng đầy đủ và đúng thời hạn các yêu cầu cung cấp số liệu của cơ quan điều tra để bảo vệ được lợi ích chính đáng của mình.

Kiên trì theo đuổi vụ việc: cơ hội để các doanh nghiệp xuất khẩu có được mức thuế chống bán phá giá thấp hoặc thậm chí không bị áp dụng thuế chống bán phá giá không chỉ ở những nỗ lực hợp tác với cơ quan điều tra trong giai đoạn điều tra ban đầu. Kể cả khi biện pháp đã được áp dụng, doanh nghiệp vẫn có các cơ hội tiếp theo trong các kỳ rà soát lại thuế chống bán phá giá. Chỉ có sự kiên trì mới đem lại kết quả tốt, từ đó tạo ra lợi thế cạnh tranh lớn hơn của doanh nghiệp so với các đối thủ bị áp dụng các mức thuế chống bán phá giá cao hơn. Không chỉ tham gia rà soát, các doanh nghiệp cũng có thể cân nhắc việc sử dụng cơ chế tòa án của EU để khiếu nại biện pháp đang áp dụng theo cơ chế này nếu cho rằng biện pháp có những điểm bất hợp lý.

Chia sẻ thông tin và phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước: Trong một vụ việc điều tra cụ thể của EU, vai trò của doanh nghiệp là chủ đạo vì doanh nghiệp là chủ thể tham gia vào vụ việc điều tra. Tuy nhiên, nguyên tắc chung của các cuộc điều tra phòng vệ thương mại vẫn cần tuân thủ theo quy định trong các hiệp định của WTO và các hiệp định thương mại tự do mà EU đã tham gia. Vì vậy, các doanh nghiệp cần thường xuyên chia sẻ thông tin và phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước để trong những trường hợp cần thiết có thêm những kênh xử lý khác để giải quyết vấn đề của doanh nghiệp như trao đổi song phương hay sử dụng các cơ chế giải quyết tranh chấp có liên quan.

Xác định rõ ràng mục đích cuối cùng: Các doanh nghiệp cần xác định mục đích cuối cùng khi các vụ việc phòng vệ thương mại xảy ra không phải là kết quả mức thuế áp dụng mà là khả năng duy trì được thị trường xuất khẩu với chi phí cơ hội mà doanh nghiệp có thể đáp ứng được. Vì vậy, trong nhiều phương án và giải pháp được cân nhắc, các doanh nghiệp cần xem xét để thực hiện những phương án và giải pháp phù hợp với mục đích cuối cùng này.

Trung Anh