Hiện nay ở Việt Nam, các cơ chế, chính sách huy động đầu tư tư nhân cho lĩnh vực năng lượng và môi trường chưa đồng bộ, không ổn định. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư theo hình thức PPP còn khá phức tạp. Quy trình cấp phép đầu tư, phát triển, xây dựng, vận hành dự án mất nhiều thời gian và phức tạp, nhất là các thủ tục về đất đai, công tác giải pháp mặt bằng.
Doanh nghiệp năng lượng tăng hơn 10 lần
Ngày 3/11, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) và Tổ chức Hợp tác phát triển Đức (GIZ) phối hợp tổ chức Hội thảo trực tuyến về nâng cao vai trò của đầu tư tư nhân đối với tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030.
Thông tin từ CIEM cho biết, giai đoạn 2010-2019, số lượng doanh nghiệp tư nhân tham gia đầu tư vào lĩnh vực năng lượng và môi trường tăng mạnh, đặc biệt là đầu tư vào sản xuất năng lượng tái tạo, nước sạch, dịch vụ thu gom và xử lý nước thải, chất thải rắn.
Cụ thể, giai đoạn 2010-2019, doanh nghiệp ngoài nhà nước tham gia đầu tư vào lĩnh vực năng lượng đã tăng gần 10 lần, từ 69 doanh nghiệp (2010) lên 777 doanh nghiệp (2019).
Trong đó, từ chỗ chỉ có 1 doanh nghiệp đầu tư vào năng lượng tái tạo (gió, mặt trời) vào năm 2010, số doanh nghiệp trong lĩnh vực này đã vọt lên 379 doanh nghiệp vào năm 2019, khá sát với con số 398 doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nhiệt điện, thủy điện và điện khác.
Cùng với sự gia tăng số lượng doanh nghiệp ngoài nhà nước tham gia đầu tư vào năng lượng, cơ cấu doanh nghiệp này so với doanh nghiệp nhà nước cũng ngày càng trở nên áp đảo, từ mức 59% lên 94,8% tổng số doanh nghiệp tham gia đầu tư.
Đặc biệt, tổng vốn đầu tư của doanh nghiệp ngoài nhà nước cũng tăng đều trong giai đoạn vừa qua, nhất là đầu tư vào điện mặt trời và điện gió có sự tăng trưởng mạnh mẽ vào năm 2019 nhờ chính sách giá FIT (biểu giá điện hỗ trợ).
Tổng vốn đầu tư vào năng lượng tái tạo năm 2019 lên 4.490 tỷ đồng, tăng 27 lần so với 166 tỷ đồng của năm 2010. Mặc dù vậy, cơ cấu đầu tư vẫn chiếm tỷ trọng nhỏ hơn so với toàn bộ nguồn vốn đầu tư vào ngành điện.
Trái ngược với tốc độ tăng vốn mạnh mẽ của doanh nghiệp, doanh thu của doanh nghiệp ngoài nhà nước không tương xứng với số lượng doanh nghiệp trong ngành, đặc biệt là trong lĩnh vực năng lượng. Cơ cấu doanh thu của khu vực này chỉ chiếm 20,3% (2010), 17% (2015) và 29,4% (2019), thấp hơn đáng kể so với khu vực nhà nước.
Ngoài ra, theo đại diện CIEM cho biết, quy mô của doanh nghiệp ngoài nhà nước ngày càng nhỏ đi và nhỏ hơn rất nhiều so với doanh nghiệp nhà nước trong lĩnh vực năng lượng và môi trường.
Cơ chế nào thu hút doanh nghiệp?
Hiện nay ở Việt Nam, các cơ chế, chính sách huy động đầu tư tư nhân cho tăng trưởng xanh chưa đồng bộ, không ổn định. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư theo hình thức PPP còn khá phức tạp. Quy trình cấp phép đầu tư, phát triển, xây dựng, vận hành dự án mất nhiều thời gian và phức tạp, nhất là các thủ tục về đất đai, công tác giải pháp mặt bằng.
Mặt khác, một số chỉ tiêu định hướng trong chiến lược, quy hoạch cơ sở hạ tầng chưa phù hợp với khả năng huy động các nguồn lực, trùng lặp và hiệu quả chưa cao. Trong bối cảnh ngân sách nhà nước có hạn, nợ công lớn dẫn đến thiếu nguồn vốn đầu tư công để thực hiện vai trò “vốn mồi” làm đòn bẩy trong công tác huy động đầu tư tư nhân xanh…
Hoàn thiện chính sách, thu hút đầu tư vào lĩnh vực năng lượng, môi trường.
Để thu hút mọi nguồn lực đầu tư tư nhân tham gia đầu tư cho tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030, đặc biệt là lĩnh vực năng lượng tái tạo, nhóm chuyên gia nghiên cứu của CIEM khuyến nghị cần ưu tiên thực hiện một số nội dung.
Thứ nhất, đẩy mạnh thể chế hóa quan điểm của Đảng về các định hướng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội gắn liền với công tác bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển kinh tế tư nhân. Cụ thể, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực năng lượng và môi trường, từng bước tạo dựng thị trường năng lượng đầy đủ theo cơ chế thị trường, trên cơ sở đảm bảo thông thoáng, minh bạch, công bằng giữa mọi thành phần kinh tế.
Thứ hai, thống nhất quan điểm xây dựng một hành lang pháp lý, cơ chế chính sách vừa bắt buộc, vừa khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư cho tăng trưởng xanh, thực thi trách nhiệm xã hội đối với môi trường, tăng trưởng xanh, phát triển bền vững.
Thứ ba, nghiên cứu ban hành các cơ chế thí điểm triển khai các dự án hợp tác công-tư (như thu gom và xử lý chất thải, cấp nước sạch,…) có quy mô nhỏ hơn 200 tỷ đồng ở các vùng nông thôn, đô thị nhỏ làm cơ sở cho việc điều chỉnh bổ sung Luật Đầu tư theo phương thức hợp tác công-tư (PPP).
Ngoài các giải pháp trên, theo các chuyên gia, cần nâng cao chế tài, tính chịu trách nhiệm người gây ô nhiễm; đẩy mạnh công tác đào tạo chuyên môn, đặc biệt là kỹ năng thẩm định, đàm phán hợp đồng dự án PPP cho các bộ ngành và địa phương; xây dựng các chương trình truyền thông nâng cao nhận thức về PPP cho toàn xã hội về vai trò của người dân trong việc chia sẻ gánh nặng tài chính cho dịch vụ chất thải với Nhà nước.
Hồng Quang