VITAS nhận định, 4 tháng cuối năm 2021 sẽ là khoảng thời gian cực kỳ khó khăn đối với ngành dệt may, do không ít khách hàng chuyển đơn hàng đi nước khác và sẽ thiếu nhân công do nhiều người lao động đã về quê không dễ quay trở lại ngay.
Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS) cho biết, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam 8 tháng đầu năm 2021 ước đạt 25,9 tỷ USD, tăng 15,8% so với cùng kỳ 2020. Kim ngạch nhập khẩu nguyên, phụ liệu ước đạt 16,2 tỷ USD tăng 30,3% so với cùng kỳ năm 2020. Trị giá xuất siêu trong 8 tháng của ngành đạt 9,73 tỷ USD.
Tuy nhiên, dịch COVID-19 bùng phát ở khu vực miền Nam đã làm gián đoạn chuỗi cung ứng một lần nữa do các công ty không thể cung cấp nguyên liệu và đảm bảo thời gian giao hàng do thiếu nguồn nhân lực. Nhiều doanh nghiệp dệt may phải đóng cửa, ngừng sản xuất, sản xuất cầm chừng, không thực hiện được đơn hàng, phải giao hàng bằng máy bay hoặc bị khách hàng hủy đơn hàng.
Ngành dệt may đối mặt với khoảng thời gian khó khăn
Tổn thất không những về kinh tế mà cả uy tín đối với khách hàng. Kim ngạch xuất khẩu tháng 8/2021 của ngành ước giảm 18,7% so với tháng 7/2021 và giảm 5,8% so với tháng 8/2020.
VITAS nhận định, 4 tháng cuối năm 2021 sẽ là khoảng thời gian cực kỳ khó khăn đối với ngành dệt may, do không ít khách hàng chuyển đơn hàng đi nước khác và sẽ thiếu nhân công do nhiều người lao động đã về quê không dễ quay trở lại ngay.
Nếu tình hình dịch bệnh không kiểm soát được trong tháng 9/2021 khả năng ngành chỉ đạt kim ngạch xuất khẩu 33 – 34 tỷ USD và mục tiêu năm 2021 đạt mức thực hiện 39 tỷ USD của năm 2019 sẽ rất xa vời.
Ông Trương Văn Cẩm, Phó Chủ tịch thường trực, Hiệp hội Dệt may Việt Nam cho rằng, để thực hiện “mục tiêu kép” vừa tập trung kiểm soát dịch, vừa duy trì sản xuất, bảo đảm việc làm, thu nhập cho người lao động, tránh đứt gãy chuỗi cung ứng ngành dệt may, cần có những sự hỗ trợ chinh sách.
Cụ thể, đề nghị Nhà nước tiếp tục khai thác nguồn vacxin nhiều nhất, nhanh nhất và tiêm đúng đối tượng. Bên cạnh lực lượng tuyến đầu và những người có nguy cơ cao cần ưu tiên tiêm vacxin cho người lao động trong nhà máy và các khu công nghiệp, đội ngũ lái, phụ xe vận tải, shipper, nhân viên làm công tác xuất nhập khẩu.
Đồng thời, thống nhất giữa các địa phương về quy định kiểm tra và phân luồng giao thông để hàng hóa xuất nhập khẩu, nguyên liệu cho sản xuất, hàng hóa thiết yếu phục vụ người dân không bị tình trạng thông thoáng ở địa phương này nhưng ách tắc ở địa phương khác.
Tạo điều kiện cho các khu công nghiệp, doanh nghiệp đã tiêm đủ 2 mũi vacxin cho người lao động tại các địa phương, các vùng không có nguy cơ cao được quay trở lại hoạt động theo điều kiện “bình thường mới”.
Địa phương và doanh nghiệp phối hợp chặt chẽ trong xử lý các tình huống phát sinh dịch bệnh và làm tốt công tác tuyên truyền nâng cao ý thức của người lao động, người dân trong việc thực hiện nghiêm các biện pháp chống dịch theo quy định.
Đặc biệt, VITAS đề nghị cắt giảm các chi phí, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, cụ thể, đề nghị Thành phố Hải Phòng dừng thu phí cảng biển đến 31/12/2021 và nghiên cứu giảm 50% cho năm 2022. Thành phố Hồ Chí Minh hoãn áp dụng thu phí cảng biển tối thiểu đến 30/6/2022.
Để giảm bớt khó khăn cho doanh nghiệp, lãnh đạo Vitas cũng đề nghị tiếp tục giảm giá điện và thuế VAT từ 20-30% cho các doanh nghiệp ở các địa phương phải thực hiện Chỉ thị 16 đến hết tháng 6.2022.
Về lâu dài, VITAS kiến nghị, thứ nhất, Chính phủ sớm ban hành “Chiến lược phát triển ngành công nghiệp dệt may Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến 2035”. Bởi vì, Việt Nam đã tham gia ký kết nhiều FTA tạo điều kiện cho các ngành kinh tế, trong đó có dệt may, mở rộng thị trường xuất khẩu với thuế suất giảm dần về 0%.
Thứ hai, Nhà nước nghiên cứu bỏ quy định nộp thuế VAT đối với doanh nghiệp sử dụng vải trong nước để may xuất khẩu, thay vì phải nộp thuế trước rồi hoàn sau như quy định hiện nay.
Thứ ba, Nhà nước sớm ban hành Luật sửa đổi, bổ sung Luật Công đoàn 2012 cho phù hợp thực tế và tương thích với những quy định liên quan của Bộ Luật Lao động 2019. Đặc biệt, xem xét, rà soát lại tỷ lệ trích nộp kinh phí công đoàn, giảm mức đóng kinh phí công đoàn từ 2% về tối đa 1% và được quản lý, phân bổ từ một Hội đồng do Chính phủ thành lập tương tự như Hội đồng quản lý Quỹ BHXH, có sự tham gia của Công đoàn Việt Nam, VCCI, Bộ Tài chính sẽ phù hợp hơn trong hình hình mới.
Thứ tư, Nhà nước nghiên cứu sửa đổi quy định tỷ lệ đóng bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp cho phù hợp thực tế. Quy định của Nhà nước về các khoản trích nộp bảo hiểm hiện nay: doanh nghiệp phải nộp tổng cộng 21,5% (17,5% BHXH, 3% BHYT, 1% BHTN); NLĐ phải nộp 10,5% (8% BHXH, 1,5% BHYT, 1% BHTN). Đây là tỷ lệ đóng cao so với khu vực và thế giới. Đề nghị Nhà nước giảm tỷ lệ đóng bảo hiểm cho DN và NLĐ về tương đương mức đóng của năm 2010 trước đây. Cụ thể: NSDLĐ đóng 17% (BHXH 14,5%, BHYT 2%, BHTN 0,5%) và NLĐ đóng 6,5% (BHXH 5%, BHYT 1% và BHTN 0,5%). Bởi vì, đây là mức đóng quá cao so với sức chịu đựng của DN và NLĐ, là nguyên nhân của nguồn kết dư rất lớn (như trên đã nêu chỉ riêng hai quỹ BHXH và BHTN đến nay đã kết dư gần 1 triệu tỷ đồng).
Thứ năm, đề nghị sửa đổi quy định theo hướng “đóng từ đủ 12 tháng đến 24 tháng được hưởng 2 tháng trợ cấp thất nghiệp, sau đó cứ đóng thêm đủ 12 tháng thì được thêm 1 tháng nhưng tối đa không quá 12 tháng”.
Anh Đào