Bàn luận xoay quanh những vấn đề liên quan đến tiềm năng, thế mạnh, cũng như những khó khăn mà các nhà đầu tư dự án điện gió đang vướng phải, đồng thời gợi mở những ý tưởng trong đầu tư điện gió trong bối cảnh mới, nhiều chuyên gia, doanh nghiệp cho rằng lựa chọn con đường phát triển cho điện gió cần cơ chế chính sách, đặc biệt là cơ chế chia sẻ rủi ro.
Trong bối cảnh ngành công nghiệp điện gió đang có tiềm năng tăng trưởng mạnh mẽ tại Việt Nam, Chính phủ đang có những chiến lược phát triển bền vững nguồn năng lượng sạch, nguồn năng lượng tái tạo và giảm thiểu phát thải, đặc biệt là sau khi Việt Nam ký “tuyên bố toàn cầu về chuyển dịch từ than sang năng lượng sạch” tại COP26 vừa qua.
Việt Nam có tiềm năng điện gió rất lớn, trong đó tổng tiềm năng kỹ thuật khoảng 377 GW. Điện gió trên bờ có tổng tiềm năng 217GW, điện gió ngoài khơi có tổng tiềm năng 160 GW. Tính đến hiện tại, cả nước có 106 dự án điện gió đang được triển khai đầu tư xây dựng với tổng mức đầu tư khoảng 6 tỉ USD, tổng công suất 5.655MW. Tuy nhiên, tính đến ngày 1/11 vừa qua mới chỉ có 69 nhà máy điện gió với tổng công suất hơn 3.298 MW được công nhận COD. Có đến 37 nhà máy điện gió còn lại trong danh sách chưa được công nhận COD hiện vẫn tiếp tục tiến trình hoàn thiện xây dựng, lắp đặt và tiến tới được thẩm định để đóng điện, hòa lưới điện. Tỉ trọng nguồn năng lượng tái tạo của nước ta hiện đạt khoảng trên 10%.
Hiện có 4 vùng có tiềm năng điện gió trên bờ, phía Bắc có Lạng Sơn, Bắc Giang; Bắc Trung Bộ có Quảng Trị, Quảng Bình; Miền Trung có Tây Nguyên, Ninh Thuận - Bình Thuận; Tây Nam Bộ có Bến Tre, Sóc Trăng và Bạc Liêu. Với đà phát triển của công nghệ thì chúng ta vẫn có thể xây dựng được hơn nữa. Tiềm năng điện gió ngoài khơi cũng vậy, nhiều nghiên cứu đánh giá là rất lớn nhưng tiềm năng ở đây cũng là tiềm năng kỹ thuật, chưa phải tiềm năng kinh tế. Các vùng có tiềm năng mạnh gồm vùng biển Bắc Bộ, Nam Trung Bộ và phía Nam, là 3 vùng có tiềm năng gió phát triển tốt nhất.
Điện gió vẫn còn nhiều tiềm năng để phát triển.
Theo đánh giá chung, hiện nay còn không ít những khó khăn, bất cập như chưa có chính sách dài hạn nhằm tạo ra môi trường đầu tư ổn định và có thể dự đoán được, đảm bảo dự đoán được dòng doanh thu của các dự án. Các nhà đầu tư chưa dự đoán được chính sách để yên tâm đầu tư. Chính sách hiện còn thiếu các quy chuẩn, tiêu chuẩn sử dụng các công nghệ năng lượng tái tạo. Giá FIT cho các dự án năng lượng tái tạo được áp dụng thống nhất trong cả nước có thể dẫn đến hạn chế nguồn lực cho phát triển, các nhà đầu tư đổ vào các khu vực có tiềm lực phát triển tốt, dẫn đến quá tải, không phân biệt quy mô sẽ dẫn đến bất cập, các dự án có quy mô lớn sẽ mang lại hiệu quả cao hơn dự án nhỏ. Đặc biệt, sau ngày 31/10/2021, 62 dự án điện gió không kịp vận hành thương mại vẫn chờ đợi câu trả lời cho "khoảng trống" chính sách. Hàng nghìn tỉ đồng của các nhà đầu tư có nguy cơ bay theo gió nếu không có cơ chế chia sẻ rủi ro.
Để có thêm những thông tin có giá trị liên quan đến tiềm năng, thế mạnh, cũng như những khó khăn mà các nhà đầu tư dự án điện gió đang vướng phải, đồng thời gợi mở những ý tưởng trong đầu tư điện gió trong bối cảnh mới, Xin ghi nhận một số ý kiến của các chuyên gia, đại diện doanh nghiệp về vấn đề này tại Diễn đàn "Phát triển điện gió trong bối cảnh mới" vừa được tổ chức mới đây.
Ông Nguyễn Anh Tuấn - nguyên Giám đốc Trung tâm Năng lượng tái tạo – Bộ Công Thương:
Cần có những chính sách hỗ trợ mạnh hơn nữa để phát triển
Ở nước ta có thể thấy, Chính phủ đã tích cực thúc đẩy phát triển năng lượng tái tạo bằng cách tạo ra hệ thống pháp lý, kinh tế vĩ mô thuận lợi, đây là cơ hội rất quý giá để các nhà đầu tư phát triển. Thực sự đây là nỗ lực không hề nhỏ đối với một quốc gia vốn coi than đá là nguồn phát triển điện chủ yếu, bên cạnh đó là thuỷ điện đã phát triển gần hết trong khi nhu cầu năng lượng vẫn tăng tốc trên 9%/năm, và thời gian tới vẫn tiếp tục tăng.
Trong triển vọng quy hoạch phát triển điện gió đến năm 2045, chúng ta thấy rằng điện gió sẽ phát triển rất nhanh chóng, tuy nhiên, nhìn vào tổng thể chung, vai trò thực sự của tỉ trọng điện gió cũng chưa phải lớn nhất trong hệ thống. Sự phát triển bùng nổ như vừa rồi là nhờ chính sách điện gió, chúng ta đã có sự hỗ trợ phát triển rất tích cực. Song, để tiếp tục phát triển tương ứng với tiềm năng, cần phải có những chính sách hỗ trợ mạnh hơn nữa, đặc biệt là cơ chế chia sẻ rủi ro.
Ông Trịnh Đức Trường Sơn - Giám đốc Công ty TNHH MTV Năng lượng Viên An Cà Mau (Thành viên của Tài Tâm Group):
Đối mặt với nhiều khó khăn
Dự án điện gió Viên An có công suất 50 MW với hạng mục xây dựng 16 trụ tua bin gió ngoài khơi và đường dây 35kV gom công suất điện về trạm 35/110kV. Giai đoạn nước rút rơi đúng vào thời điểm dịch Covid-19 phức tạp. Nguồn nhân lực, thiết bị, máy móc đến công trường khó khăn, vận chuyển tuabin từ nước ngoài về thì phải qua rất nhiều khâu kiểm dịch, sau đó tập trung tại cảng Đá Son, Vũng Tàu. Để kiểm soát được thiết bị thì cần con người, nhưng việc đưa cán bộ kỹ thuật vào tương đối khó khăn do tỉnh có những quy định gắt gao trong công tác phòng chống dịch.
Ngoài ra còn có khó khăn trong nguồn nhân lực để triển khai dự án, các vị trí đóng trục tuabin, đường dây. Muốn vào Cà Mau thì phải xin phép tỉnh, tỉnh đồng ý thì mới được vào. Sau đó thì tiến hành test nhanh Covid-19, yêu cầu lưu trú 14 đến 21 ngày dẫn đến ảnh hưởng tới tiến độ. Và khi muốn di chuyển sang tỉnh khác, thì phải lặp lại quy trình xin phép, thủ tục. Đồng thời trong quá trình thi công, có những xà lan trên biển, ngoài việc test 3 ngày/lần thì còn khó khăn do phải di chuyển từ xà lan vào đất liền dẫn đến làm tăng chi phí, ảnh hưởng đến tiến.
Là một trong những doanh nghiệp có dự án chưa kịp COD, theo đó, chúng tôi cần có sự rõ ràng về giá FIT tiếp theo, thời gian gia hạn như thế nào một cách cụ thể để có cơ sở cho quá trình triển khai tiếp theo.
Ông Nguyễn Hoàng Long - Tổng Giám đốc Công ty CP Hạ tầng Gelex:
Không nên để nhà đầu tư chịu mọi rủi ro
Gelex tham gia thị trường điện vì nhìn thấy nhu cầu dài hạn, bền vững và thiết yếu, còn với riêng năng lượng tái tạo và cơ chế giá FIT thì phù hợp xu hướng thế giới, có thể thực hiện nhanh, và có tiềm năng lợi nhuận. Ai cũng nghĩ rằng các dự án rất tốt, doanh nghiệp sẽ được lợi rất nhiều. Nhưng ở góc độ nhà đầu tư và khi ra quyết định đầu tư, sẽ nhìn thấy những bất cập, rủi ro lớn nếu dự án không kịp vận hành thương mại. Cơ chế chính sách từ sớm cho trường hợp chậm COD là điều vô cùng quan trọng với những nhà đầu tư dự án.
Tuy nhiên, nhà đầu tư không thể trả lời khoảng trống này. Khi tiến hành đầu tư, họ chấp nhận rủi ro và đặt niềm tin vào các nhà hoạch định chính sách cho trường hợp xấu.
Ngoài các nhà đầu tư, ngân hàng là đối tượng quan tâm đến các chính sách này. Bởi, trường hợp dự án vận hành thương mại đúng hạn, bán điện với giá FIT, nguồn tiền cho vay sẽ trở về và sinh lời. Tuy nhiên, nếu cơ hội tuột khỏi tầm tay thì sẽ không rõ kịch bản xảy ra. Về lý thuyết, doanh thu có thể bằng 0 khi nhà máy có thể không được phát điện hoặc không được trả tiền. Dù xác suất chuyện này xảy ra có thể chỉ 1% nhưng khi ra quyết định cho vay, ngân hàng khó chấp nhận chuyện đó. Nếu dự án không thành công, nhà đầu tư phải trao toàn bộ tài sản cho ngân hàng hoặc đầu tư toàn bộ bằng vốn chủ.
Tuy nhà đầu tư chấp nhận rủi ro, nhưng không thể lường trước mọi tình huống. Ngay cả Nhà nước cũng đã phải có nhiều điều chỉnh chính sách, đối phó có phần bị động trước dịch Covid-19 bùng phát và gây tác động bất lợi đến nhiều doanh nghiệp, thì không nên để nhà đầu tư chịu mọi rủi ro. Điều cần thiết lúc này là kịch bản xử lý với các dự án không kịp COD để chủ đầu tư giải được bài toán đầu tư, tiếp tục triển khai, ngân hàng sẽ cân đối được nguồn vốn./.
Văn Phương