10:19 27/08/2026

Doanh nghiệp nhỏ và vừa: Có dòng tiền, có tăng trưởng nhưng vẫn thiếu vốn

Chiếm khoảng 94% tổng số doanh nghiệp tại Việt Nam nhưng chỉ một tỷ lệ nhỏ doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận được vốn vay ngân hàng. Đáng chú ý, trong số những doanh nghiệp chưa vay vốn vẫn có hàng chục nghìn doanh nghiệp sở hữu dòng tiền kinh doanh và doanh thu tăng trưởng tích cực.

Nhiều doanh nghiệp có nền tảng tốt vẫn đứng ngoài tín dụng

Theo báo cáo tháng 8/2026 của FiinGroup, doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm khoảng 94% tổng số doanh nghiệp tại Việt Nam, tương đương khoảng 914.000 doanh nghiệp. Khu vực này sử dụng khoảng 6,6 triệu lao động nhưng chỉ đóng góp dưới 20% doanh thu của toàn nền kinh tế và khoảng 8% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu.

Đáng chú ý, chỉ khoảng 8,8% doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận được vốn vay, giảm 0,5 điểm phần trăm so với năm 2025. Trong khi đó, tỷ lệ này ở nhóm doanh nghiệp lớn lên tới 47,1%.

Khoảng cách lớn về khả năng tiếp cận tín dụng cho thấy bài toán vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa không chỉ nằm ở nhu cầu vay, mà còn liên quan đến khả năng đáp ứng các điều kiện để được ngân hàng cấp tín dụng.

Doanh nghiệp nhỏ và vừa Có dòng tiền có tăng trưởng nhưng vẫn thiếu vốn
Khả năng tiếp cận nguồn vốn đang là một trong những điểm nghẽn đối với quá trình mở rộng quy mô của doanh nghiệp nhỏ và vừa. (Ảnh minh họa)

Một trong những điểm đáng chú ý từ dữ liệu FiinGroup là doanh nghiệp chưa vay vốn không đồng nghĩa với doanh nghiệp có sức khỏe tài chính yếu. Gần 90% doanh nghiệp nhỏ và vừa trong mẫu nghiên cứu chưa ghi nhận nợ vay, nhưng trong số này vẫn có một lượng đáng kể doanh nghiệp duy trì hoạt động tương đối tích cực.

Các tổ chức tín dụng thường có xu hướng ưu tiên những doanh nghiệp đã hoạt động đủ lâu, bởi nhóm này có lịch sử kinh doanh và dữ liệu tài chính rõ ràng hơn, qua đó thuận lợi hơn cho việc đánh giá rủi ro. Thực tế, gần 85% doanh nghiệp nhỏ và vừa đang vay vốn có thời gian hoạt động từ 5 năm trở lên.

Trong khi đó, FiinGroup ước tính khoảng 45% doanh nghiệp hoạt động trên 5 năm, có mức rủi ro từ trung bình đến thấp nhưng vẫn chưa tiếp cận được vốn vay. Đây là khoảng trống đáng chú ý trên thị trường tín dụng.

Trong khoảng 222.000 doanh nghiệp hoạt động trên 5 năm nhưng chưa vay vốn, 47,8% có dòng tiền từ hoạt động kinh doanh dương và 59% có tăng trưởng doanh thu dương. Đặc biệt, khoảng 67.000 doanh nghiệp đồng thời có cả dòng tiền kinh doanh và tăng trưởng doanh thu dương.

Những con số này cho thấy rào cản tín dụng không phải lúc nào cũng bắt nguồn từ khả năng trả nợ yếu. Một bộ phận doanh nghiệp vẫn duy trì hoạt động kinh doanh, doanh thu và dòng tiền tương đối tốt nhưng chưa được kết nối với nguồn vốn phù hợp.

Đây cũng là nhóm khách hàng mà các ngân hàng có thể nghiên cứu sâu hơn thay vì áp dụng một cách tiếp cận đồng nhất đối với toàn bộ khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa. Việc phân loại khách hàng dựa trên dòng tiền, lịch sử hoạt động, doanh thu và mức độ rủi ro có thể tạo thêm dư địa mở rộng tín dụng mà vẫn kiểm soát chất lượng tài sản.

Ngành thương mại là một ví dụ. Toàn ngành có khoảng 275.000 doanh nghiệp, trong đó phần lớn là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tuy nhiên, chưa đến 10% doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực này tiếp cận được vốn vay. Trong số những doanh nghiệp chưa vay vẫn có một bộ phận được đánh giá thuộc nhóm rủi ro thấp và trung bình.

Dù biên lợi nhuận gộp trung vị của ngành đạt 11,6%, chất lượng dòng tiền vẫn là yếu tố cần lưu ý khi tỷ lệ doanh nghiệp có dòng tiền kinh doanh dương chỉ ở mức 23,4%. Điều này cho thấy việc mở rộng tín dụng cần đi cùng khả năng đánh giá chính xác sức khỏe tài chính và dòng tiền của từng doanh nghiệp.

Tín dụng cần trở thành đòn bẩy giúp doanh nghiệp lớn lên

Khoảng cách tiếp cận vốn càng đáng chú ý khi đặt trong bài toán nâng quy mô doanh nghiệp. Theo FiinGroup, năm 2026 có gần 43.000 doanh nghiệp nâng quy mô, cao hơn năm trước. Phần lớn động lực đến từ nhóm doanh nghiệp siêu nhỏ chuyển lên doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Tuy nhiên, tỷ lệ doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển lên nhóm doanh nghiệp lớn vẫn chỉ dao động khoảng 0,7-0,9% qua các năm. Năm 2026, số doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển thành doanh nghiệp lớn được ghi nhận khoảng 7.200 doanh nghiệp, tăng nhẹ so với cùng kỳ.

Những con số này phản ánh một điểm nghẽn quan trọng của khu vực doanh nghiệp tư nhân: doanh nghiệp có thể duy trì hoạt động, thậm chí tăng trưởng, nhưng để tạo bước nhảy về quy mô vẫn là một thách thức lớn.

Trong bối cảnh đó, vốn tín dụng không nên chỉ được nhìn dưới góc độ hỗ trợ doanh nghiệp giải quyết thiếu hụt dòng tiền ngắn hạn. Quan trọng hơn, nguồn vốn cần trở thành công cụ giúp doanh nghiệp đầu tư máy móc, mở rộng sản xuất, nâng cao năng lực quản trị, tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng và tiếp cận những thị trường lớn.

Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số, việc mở rộng tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vì thế cần chuyển từ tư duy "cho vay theo quy mô" sang "cho vay theo khả năng phát triển". Doanh nghiệp nhỏ không đồng nghĩa với rủi ro cao, cũng như doanh nghiệp lớn không mặc nhiên là khách hàng an toàn.

Một hệ thống tín dụng có khả năng nhận diện chính xác những doanh nghiệp đang có dòng tiền tốt, doanh thu tăng trưởng và lịch sử hoạt động đủ dài sẽ tạo thêm dư địa mở rộng thị trường mà vẫn kiểm soát được rủi ro.

Nếu dòng vốn tiếp tục tập trung chủ yếu vào nhóm doanh nghiệp đã có quy mô lớn và lịch sử tín dụng dày, khoảng cách giữa doanh nghiệp lớn với doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ khó được thu hẹp. Ngược lại, nếu hàng trăm nghìn doanh nghiệp có nền tảng tương đối tốt nhưng đang đứng ngoài tín dụng được kết nối đúng với nguồn vốn, hiệu ứng tạo ra có thể lớn hơn nhiều so với việc chỉ gia tăng dư nợ.

Khi đó, bài toán tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa không còn đơn thuần là "khơi thông dòng vốn", mà trở thành câu chuyện tạo thêm những doanh nghiệp đủ sức lớn lên, mở rộng đầu tư và đóng góp nhiều hơn cho nền kinh tế.

Thanh Phong