Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) vừa gửi công văn tới Hội đồng Tư vấn cải cách thủ tục hành chính của Thủ tướng Chính phủ nêu rõ một loạt vướng mắc liên quan đến cơ chế, chính sách và thủ tục hành chính mà doanh nghiệp thủy sản đang gặp phải, đồng thời, đề xuất giải pháp nhằm hỗ trợ ngành này phục hồi và phát triển.
Vướng mắc khi kê khai thu mua nguyên liệu thủy sản
Theo phản ảnh của DN thành viên VASEP, thời gian gần đây Cục Thuế của một số tỉnh (như Bà Rịa - Vũng Tàu, Quảng Trị,...) đã tổ chức thanh, kiểm tra thuế cho giai đoạn 2016-2017 tại một số DN chế biến thuỷ sản xuất khẩu trên trên địa bàn. Trong quá trình thanh, kiểm tra đã phát sinh một số vướng mắc, bất cập.
Cụ thể, hiện một số tàu thuyền đánh bắt hải sản mà các DN chế biến thủy sản kê khai chưa có giấy phép khai thác. Cục Thuế đã loại tất cả chi phí thu mua nguyên liệu từ những tàu thuyền này vì xem đó là chi phí không hợp lý, hợp lệ.
Theo qui định của pháp luật thì DN không có thẩm quyền kiểm tra giấy phép khai thác của tàu thuyền đánh bắt hải sản. Quyền cấp và kiểm tra giấy phép khai thác thuộc về các cơ quan thẩm quyền của Nhà nước như Bộ đội Biên phòng, Chi cục kiểm ngư, Chi cục Thủy sản, Ban quản lý cảng cá…Khi DN mua nguyên liệu thì DN chỉ biết căn cứ vào các thông tin tự khai của các nậu vựa, chủ tàu. Hơn nữa, tại mẫu số 01/TNDN không quy định khai báo các giấy tờ (như giấy phép khai thác, giấy chứng nhận an toàn thực phẩm, đăng kiểm…) nên thời điểm đó, DN không đề nghị chủ tàu cá cung cấp cũng như không khai thông tin này ở mẫu số 01/TNDN. Do vậy, Hiệp hội thấy rằng không có cơ sở pháp lý để cơ quan thuế cho rằng đây là lỗi của DN chế biến vì không kiểm tra tàu có giấy phép khai thác hợp pháp hay không để thu thuế và phạt chậm nộp các DN.
Hậu quả là các DN chế biến thủy sản bị truy thu thuế TNDN 20% trên toàn bộ chi phí nguyên liệu đầu vào mua từ các tàu cá này và bị phạt chậm nộp (tính từ năm 2016-2017 đến nay) cũng tương đương 20% nữa. Nghĩa là DN chế biến phải đóng thêm khoản thuế TNDN 3 và phạt chậm nộp khoảng bằng 40% chi phí nguyên liệu. Điều này có nguy cơ dẫn đến các doanh nghiệp chế biến thủy sản rơi vào tình trạng vô cùng khó khăn.
Doanh nghiệp còn gặp vướng mắc, bất cập trong việc xác minh thông tin thu mua nguyên liệu thủy sản từ các tàu cá, ngư dân, chính quyền địa phương.
Đối với việc xác nhận của chủ tàu cá, với đặc thù ngành nghề kinh doanh, nguyên liệu chủ yếu của các DN là nguyên liệu thủy sản khai thác, đa số thu mua từ các tàu thuyền của các ngư dân, nên các DN đã lập bảng kê thu mua hàng hoá, dịch vụ mua vào không có hoá đơn theo mẫu số: 01/TNDN ban hành kèm theo thông tư số 78/2014 của Bộ Tài Chính. Đến nay, trong quá trình thanh, kiểm tra, cơ quan thuế đã yêu cầu xác minh lại việc thu mua từ các tàu cá ngư dân khi sự việc mua bán và thanh toán đã hoàn tất trước đó từ rất lâu, thường là nhiều năm trước. Do đó, khi cơ quan thuế phối hợp với các UBND xã về xác minh lại với các chủ tàu thì đa phần các chủ tàu đều sợ phải làm việc với cơ quan ban ngành, sợ phải khai báo lịch trình vùng đánh bắt, ngư lưới cụ .... nên để yên chuyện, tránh các thủ tục rắc rối, nhiều người trong số họ lại quay ngược lại khai báo không bán cá cho các DN đang bị kiểm tra nhằm tránh khỏi phải bị vướng các vấn đề liên quan. Do đó các DN luôn ở thế bị động và phải tuỳ thuộc vào tâm trạng của chủ tàu ở thời điểm xác minh, thậm chí có thể chịu khoản truy thu thuế oan nếu chủ tàu không muốn rắc rối nên không chịu xác nhận.
Đối với việc xác nhận của chính quyền địa phương, do bất cập trong việc xác nhận của chủ tàu cá nói trên, nhiều DN muốn làm hồ sơ mua bán với tàu cá có xác nhận của chính quyền địa phương để cơ quan thuế khỏi phải xác minh, chỉ căn cứ vào chứng từ mua hàng để ghi nhận chi phí nguyên liệu đầu vào, nhưng cũng gặp một số khó khăn.
Thêm nữa, doanh nghiệp chế biến thuỷ sản xuất khẩu thu mua nguyên liệu qua các cơ sở thu mua (thường gọi là nậu vựa) hoặc mua trực tiếp từ tàu khai thác. Theo phản ánh của các DN thì vào giai đoạn 2016-2017, thì phần lớn các cơ sở thu mua đã đăng ký giấy phép kinh doanh thì có xuất hóa đơn tài chính cho DN. Còn một số nậu vựa chưa chưa đăng ký giấy phép kinh doanh nên không xuất được hóa đơn tài chính thì nậu vựa, tàu khai thác làm bảng kê mua bán theo mẫu 01/TNDN của Thông tư 96/2015/TT-BCT. Không có DNCB nào có thể mua tất cả các loại cá, mực khác nhau với các mức chất lượng khác nhau để chế biến được. Thực tế cho thấy vai trò trung gian của các nậu vựa là cần thiết vì làm chức năng phân loại sản phẩm và phân phối đến đúng các DN cần cho nên Nhà nước không cần đưa ra qui định phải mua trực tiếp từ ngư dân theo bảng kê 01/TNDN.
Ngày 11/10/2024, VASEP đã có văn bản số 103/CV-VASEP báo cáo, kiến nghị giải quyết bất cập về thuế cho DN thủy sản gửi tới Tổng cục Thuế (đồng kính gửi Bộ Tài chính và Hội đồng Tư vấn CCTTHC) xem xét tháo gỡ cho các DN thủy sản tại các tỉnh (như Bà Rịa-Vũng Tàu, Quảng Trị,...) việc Cục Thuế địa phương thực hiện thanh, kiểm tra đồng thời các giấy tờ (giấy phép khai thác…) của tàu cá trong giai đoạn nhiều năm trước đây để quyết định chi phí nguyên liệu của DN là hợp lý hay không khi mà các văn bản QPPL của ngành thuế cũng như mẫu 01/TNDN không có các quy định hoặc dẫn chiếu cụ thể tới các giấy tờ này.
Đồng thời, Ban hành hướng dẫn chi tiết về quy trình thu mua nguyên liệu và các hồ sơ chứng từ cần thiết đối với các lô nguyên liệu mà DN thủy sản thu mua (DN mua nguyên liệu của ngư dân khai thác, mua từ cơ sở thu mua), để Cục thuế các địa phương triển khai đồng bộ & phù hợp. Ngành thuế cũng cần tăng cường thanh, kiểm tra việc hoàn thuế VAT cho các DN xuất khẩu trong khoảng 3 năm vì nếu để đến 7-8 năm là quá dài với rất nhiều sự đổi thay về cơ 5 chế chính sách của Nhà nước cũng như nhân sự của DN và công việc, đời sống của ngư dân.
Bất cập trong chính sách thuế TNDN đối với hoạt động chế biến thủy sản
Sau nhiều năm vướng mắc liên quan việc áp mức thuế TNDN cao tới 20% tại Cục thuế nhiều địa phương do Cục thuế xác định sản phẩm thủy sản là từ “hoạt động sơ chế”, sau khi nhận được kiến nghị của VASEP và tham vấn ý kiến của Bộ NNPTNT (được Bộ NNPTNT trả lời tại công văn số 7365/BNN-CBTTNS) , Bộ KHĐT (được Tổng cục Thống kê trả lời tại công văn số 1274/TCTK-PPCĐ) thì ngày 12/3/2021 Bộ Tài chính đã ban hành văn bản số 2550/BTC-TCT v/v chính sách thuế TNDN gửi Bộ NNPTNT, UBND Tỉnh Cà Mau và VASEP, theo đó xác định rõ “các hoạt động (i) chế biến từ sản phẩm tươi sống đã qua đông lạnh đến -18 độ C, (ii) chế biến từ sản phẩm tươi sống thành sản phẩm chín, (iii) chế biến từ nguyên liệu có pha trộn gia vị phụ liệu để ra hàng giá trị gia tăng (GTGT) là hoạt động chế biến thủy sản” làm căn cứ để các Cục thuế xác định ưu đãi thuế TNDN theo quy định hiện hành.
Ngày 6/9/2023, Bộ Tài chính đã có công văn 9494/BTC-VP trả lời đề xuất, kiến nghị của hiệp hội, doanh nghiệp, trong đó đã ghi nhận ý kiến kiến nghị của VASEP để nghiên cứu đưa nội dung xác nhận sản phẩm thủy sản là sản phẩm của “hoạt động chế biến” vào văn bản quy phạm pháp luật trong quá trình hoàn thiện, xây dựng chính sách. Tuy nhiên, tại công văn 2042/CST-TN ngày 21/10/2024 của Cục Quản lý, Giám sát Chính sách Thuế, Phí và Lệ phí (Bộ Tài chính) trả lời kiến nghị của VASEP đã nêu lại các chính sách, quy định thuế hiện hành và đề nghị VASEP tự tham khảo hướng dẫn của cơ quan quản lý chuyên ngành và khẳng định “việc xác định thế nào là “chế biến” thì phải căn cứ quy định của pháp luật chuyên ngành và thuộc chức năng quản lý của các Bộ quản lý chuyên ngành (Bộ NNPTNT, Bộ KHĐT và cơ quan liên quan)”.
Tuy nhiên, việc xác định các hoạt động nói trên là hoạt động chế biến thủy sản đã được 2 Bộ quản lý chuyên ngành là Bộ NNPTNT và Bộ KHĐT cũng như Bộ Tài chính xác nhận tại 3 văn bản nói trên. Vì vậy, việc đưa vào văn bản có tính chất quy phạm pháp luật quy định xác nhận sản phẩm thủy sản là sản phẩm của “hoạt động chế biến” để hưởng ưu đãi thuế TNDN cho hoạt động chế biến là cần thiết và phù hợp.
VASEP kiến nghị Bộ Tài chính xem xét, đưa nội dung xác nhận sản phẩm thủy sản là sản phẩm của “hoạt động chế biến” để hưởng ưu đãi thuế TNDN cho hoạt động chế biến vào văn bản dự thảo Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp sửa đổi hoặc một văn bản quy phạm pháp luật phù hợp để các cơ quan thuế thực hiện thống nhất theo tinh thần văn bản số 2550/BTC-TCT ngày 12/3/2021 của Bộ Tài chính.
Khó khăn của doanh nghiệp khi xin cấp giấy S/C và C/C
Từ ngày 01/07/2024, hệ thống truy xuất nguồn gốc khai thác điện tử (eCDT) được triển khai cho 100% tàu cá ra vào cảng, bao gồm việc thu nộp nhật ký khai thác thủy sản và giám sát sản lượng bốc dỡ qua hệ thống eCDT. Hiện nay, các cảng cá đang yêu cầu ngư dân khi vào cảng sẽ phải khai báo thông tin sản lượng trên app điện thoại, phần lớn các cảng cá không chấp nhận khai báo trên giấy. Hiện tại, nhiều mặt hàng hải sản vẫn chưa cấp được các hồ sơ cho lô nguyên liệu như Biên nhận mua bán và giấy SC trên hệ thống eCDT do các bất cập tại cac khâu trước của chuỗi thu mua nguyên liệu.
Nhiều tàu khai thác khi vào cảng nhưng ngư dân không hợp tác vào app điện thoại để khai báo thông tin hoặc khai thông tin không đủ nên cuối cùng DN không xin được Biên bản bốc dỡ tại cảng, giấy S/C.
DN mua nguyên liệu từ cơ sở thu mua (Nậu vựa) nhưng khi DN báo cơ sở thu mua khai báo tàu khai thác để tàu về cảng làm thủ tục trên app thì cơ sở thu mua cũng ít hợp tác và báo không rành về app và không làm được. Khi đó, DN cũng không xin được các giấy tờ cần thiết tại cảng.
Với các tàu thu mua/chuyển tải: phải khai báo trên phần mềm eCDT đủ các thông tin. Nếu có bất kỳ tàu nào không truy xuất được, tàu thu mua sẽ bị quy là vi phạm IUU. Trong khi tàu chuyển tải thu mua nguyên liệu của nhiều tàu khai thác nên chỉ vì 01 tàu không ghi chép đủ thông tin, hoặc thông tin thiếu chi tiết trong nhật ký khai thác của tàu thì DN khi đã mua nguyên liệu của tàu chuyển tải đó cũng không thể làm thủ tục xin giấy S/C được.
Theo quy định, tàu cá trên 15m mới phải gắn thiết bị giám sát hành trình (VMS), tàu dưới 15m không phải lắp VMS. Hiện nay, phần mềm eCDT yêu cầu cập nhật thông tin của tàu có lắp đặt VMS. Do đó, khi DN mua nguyên liệu từ các tàu cá dưới 15m thì không cập nhật được thông tin trên eCDT nên DN cũng không thể làm thủ tục xin giấy S/C được.
Do đó, trên hệ thống phần mềm eCDT, các địa phương phải triển khai đồng bộ từ trong cả chuỗi khai thác (từ ngư dân, cơ sở thu mua, doanh nghiệp) để đảm bảo phần nhập liệu đầy đủ và chính xác ngay từ khâu đầu ngư dân ra-vào cảng, vì việc nhập liệu không đầy đủ từ ngay khâu đầu (ngư dân) thì sau dù DN có nhập đủ và đúng thì cũng không được duyệt xác nhận NL (S/C) – sẽ gây khó khăn cho DN ở khâu cuối của chuỗi mua nguyên liệu.
VASEP kiến nghị Bộ NNPTNT xem xét, hỗ trợ để khai thông được sản xuất-xuất khẩu bình thường hiện nay của ngư dân và doanh nghiệp.
Cục Thủy sản, Chi cục Thủy sản và BQL cảng cá tập huấn, hướng dẫn cho ngư dân việc nạp dữ liệu nguồn đầu vào chính xác để các khâu sau không bị vướng mắc. Cần thiết lập đường dây hỗ trợ kỹ thuật 24/7. Cục Thủy sản có hướng dẫn về việc nhập liệu lên eCDT đối với tàu khai thác nhỏ (dưới 15m) không lắp đặt VMS và quy trình xác nhận nguyên liệu khai thác (S/C) đối với nguyên liệu khai thác từ các tàu khai thác này. Xem xét chỉ đạo việc yêu cầu tất cả các khâu thẩm tra tàu IUU phải hoàn thành trước khi tàu vào cảng; và khi các thông tin trên eCDT đã đầy đủ và đúng thì BQL cảng cá cần xác nhận luôn S/C cho DN.
Bất cập trong việc xác nhận nguyên liệu Ruốc xuất khẩu vào EU
Ruốc (tên khoa học là Acetes japonicus, tên tiếng Anh là Akiami paste shrimp) là loài thủy sản đặc thù được ngư dân khai thác gần bờ bằng các thuyền thúng nhỏ, không cần giấy phép khai thác và không phải lắp đặt thiết bị VMS (do là thuyền < 15m), đa phần cập cảng vào bãi ngang, không cập nhật được phần mềm eCDT dẫn đến không đủ điều kiện cấp giấy xác nhận nguyên liệu khai thác (S/C) và Giấy chứng nhận (C/C) cho nguyên liệu ruốc xuất khẩu sang châu Âu theo quy định hiện hành.
Sản lượng ruốc là khá lớn ở các tỉnh miền Trung. Khách hàng Châu Âu lại có nhu cầu lớn về mặt hành này. Đề gia tăng giá trị & sinh kế cho ngư dân, cũng như để việc xuất khẩu sang EU không bị ách tắc, Hiệp hội trân trọng kiến nghị và đề xuất với Bộ NNPTNT xem xét trường hợp nguyên liệu Ruốc là trường hợp đặc thù để có văn bản hướng dẫn cụ thể cho phép xác nhận nguyên liệu khai thác (S/C) đối với nguyên liệu ruốc cho sản xuất hàng xuất khẩu vào thị trường EU.
Quy định “muối dùng trong chế biến thực phẩm phải được tăng cường iốt”
Hiệp hội VASEP ủng hộ chủ trương của Chính phủ trong các quyết sách để cải thiện tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe nhân dân, trong đó có quyết sách về tăng cường vi chất dinh dưỡng trong thực phẩm. Tuy nhiên, trên cơ sở các quan ngại nêu trên, Hiệp hội trân trọng đề nghị Chính phủ và Bộ Y tế xem xét điều chỉnh, bổ sung trong Dự thảo Nghị định sửa đổi: Loại trừ hàng thủy sản và thực phẩm xuất khẩu khỏi điều chỉnh của Dự thảo Nghị định sửa đổi Nghị định 09/2016 (sửa đổi khoản 2 Điều 2 của NĐ 09/2016 thành “thực phẩm xuất khẩu” thay vì “cơ sở thực phẩm xuất khẩu”). Khuyến khích sử dụng muối có bổ sung i-ốt trong chế biến thực phẩm dùng cho tiêu dùng nội địa.
Ngoài vấn đề thực tiễn như đã nêu tại 5 quan ngại trên, thì tiếp cận này có thể tham khảo quy định hiện hành của Canada: bắt buộc bổ sung i-ốt cho muối ăn dùng cho hộ gia đình, không bắt buộc bổ sung i-ốt cho muối dùng trong chế biến thực phẩm ( https://inspection.canada.ca/en/food-labels/labelling/industry/salt )
Bổ sung bắt buộc i-ốt cho muối dùng trong hộ gia đình và dịch vụ ăn uống trực tiếp (đúng theo Chiến lược quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2021-2030) và các gia vị mặn dạng rắn.
Cho phép các cơ sở sản xuất-nhập khẩu muối được cung cấp muối không bổ sung iốt để sử dụng theo nhu cầu của những người thừa i-ốt, của DN sản xuất hàng thực phẩm xuất khẩu. Yêu cầu ghi nhãn rõ ràng về muối i-ốt và lợi ích phòng chống bướu cổ để phân biệt với muối tinh khiết.
Bất cập về quản lý và tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam
Sau hơn 4 năm triển khai, Quyết định 06/QĐ-TTg đã bộc lộ nhiều bất cập, gây chậm trễ trong việc cho phép tổ chức hội thảo, hội nghị quốc tế, thời gian giải quyết thủ tục hành chính tại nhiều trường hợp bị kéo dài hơn quy định do thời gian luân chuyển công văn giữa các Bộ Ngành, các sở ban ngành, Văn phòng UBND các tỉnh bị kéo dài, gây khó khăn cho các đơn vị, tổ chức trong việc triển khai các hoạt động liên quan đến các hội nghị, hội thảo có yếu tố quốc tế.
Trong thực tế, nhiều hội thảo, hội nghị quốc tế do các hiệp hội tổ chức nhằm hỗ trợ doanh nghiệp để kết nối thị trưởng, nâng cao năng lực chuyên môn, kỹ thuật, cung cấp thông tin về quy định pháp lý, công nghệ mới,... cho doanh nghiệp thời gian qua đã không thể tổ chức được do thời gian chờ đợi phê duyệt quá lâu và thủ tục còn nhiều điểm chưa rõ ràng.
Để đơn giản hóa và tạo thuận lợi cho công tác tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam, tận dụng được nguồn kinh phí hỗ trợ, kinh nghiệm tốt của chuyên gia quốc tế nhằm giúp 10 nâng cao nhận thức, kiến thức và năng lực cho các doanh nghiệp và các đơn vị liên quan, đề nghị Chính phủ xem xét cho phép các Hiệp hội doanh nghiệp ngành hàng không phải làm thủ tục xin phép tổ chức sự kiện mà hàng năm lập kế hoạch tổ chức hội thảo, hội nghị quốc tế.
Trước khi tổ chức sự kiện 2 tuần sẽ gửi văn bản tới Bộ, ngành đầu mối để báo cáo cũng như có báo cáo sau khi tổ chức sự kiện thành công. Trường hợp nếu có vấn đề cần xem xét, Bộ ngành sẽ có văn bản thông báo dừng/hoãn sự kiện trước ngày khai mạc sự kiện ít nhất 5 ngày để các Hiệp hội kịp thực hiện thủ tục hoãn/hủy sự kiện với các bên liên quan.
Trung Anh