Khi tài sản bảo đảm không còn là căn cứ duy nhất để đánh giá khoản vay, dữ liệu dòng tiền mở ra hướng tiếp cận tín dụng mới cho doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh, những thách thức vẫn là câu chuyện chuẩn hóa thông tin, kiểm soát rủi ro và bảo đảm quyền lợi khách hàng.
Từ tài sản bảo đảm đến năng lực tạo dòng tiền
Trong hoạt động tín dụng, tài sản bảo đảm từ lâu là một trong những căn cứ quan trọng để ngân hàng kiểm soát rủi ro. Tuy nhiên, với doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh và cơ sở sản xuất quy mô nhỏ, việc thiếu bất động sản hoặc tài sản có giá trị lớn có thể trở thành rào cản, ngay cả khi hoạt động kinh doanh có đơn hàng, doanh thu và nhu cầu vốn thực tế.
Trong bối cảnh đó, dữ liệu dòng tiền đang mở ra hướng tiếp cận mới khi ngân hàng đánh giá khách hàng dựa trên khả năng tạo doanh thu, vòng quay vốn, lịch sử thanh toán và triển vọng trả nợ, thay vì phụ thuộc quá lớn vào tài sản thế chấp. Đây không phải là việc loại bỏ tài sản bảo đảm khỏi quy trình cho vay, mà là bổ sung căn cứ để ngân hàng nhận diện đầy đủ hơn năng lực tài chính của khách hàng.
Theo số liệu được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại hội nghị về tăng cường khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa ngày 18/9/2026, dư nợ cho vay đối với nhóm doanh nghiệp này đến ngày 28/8 đạt hơn 4,1 triệu tỷ đồng, tăng 12,4% so với cuối năm 2025 và chiếm gần 20% tổng dư nợ nền kinh tế. Dù quy mô tín dụng đã khá lớn, khả năng tiếp cận vốn vẫn chưa đồng đều giữa các doanh nghiệp.
Ảnh minh họa (Nguồn: Huy Hưng)
Tại hội nghị này, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn nhấn mạnh yêu cầu ngân hàng chủ động tìm đến doanh nghiệp, đánh giá dựa trên dòng tiền, phương án kinh doanh và dữ liệu, nhưng không hạ chuẩn tín dụng. Định hướng này phản ánh một thay đổi quan trọng trong tư duy cấp vốn: thay vì chỉ hỏi khách hàng có tài sản gì để thế chấp, ngân hàng cần đánh giá doanh nghiệp tạo ra dòng tiền như thế nào, nguồn thu có ổn định không và khả năng trả nợ được duy trì ra sao khi thị trường biến động.
Trên thực tế, doanh thu ghi nhận trên hóa đơn, dòng tiền vào tài khoản, công nợ phải thu và lịch sử thanh toán cho nhà cung cấp có thể cung cấp nhiều thông tin về hoạt động kinh doanh. Chẳng hạn, một doanh nghiệp có hợp đồng đầu ra ổn định, thường xuyên nhận thanh toán qua ngân hàng và có lịch sử trả nợ tốt có thể chứng minh năng lực tài chính rõ ràng hơn khi các dữ liệu này được tổng hợp, đối chiếu và xác minh.
Tuy nhiên, doanh thu không đồng nghĩa với lợi nhuận, còn dòng tiền vào tài khoản chưa chắc là dòng tiền tự do để trả nợ. Doanh nghiệp có thể ghi nhận doanh thu lớn nhưng bị khách hàng chiếm dụng vốn, tồn kho tăng hoặc phải thanh toán nhiều khoản chi phí cùng lúc. Vì vậy, mô hình cho vay dựa trên dòng tiền cần phân tích cả chu kỳ thu – chi, nghĩa vụ nợ hiện hữu và khả năng chịu đựng khi doanh thu giảm.
TS. Nguyễn Trọng Hoài, chuyên gia kinh tế tại Đại học Kinh tế TP.HCM cho rằng, Việt Nam cần nghiên cứu các mô hình tài chính mở dựa trên dữ liệu số để cải thiện khả năng tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp thiếu tài sản bảo đảm.
Kết nối dữ liệu, mở rộng tín dụng có kiểm soát
Một trong những điều kiện quan trọng để mô hình này phát huy hiệu quả là dữ liệu phải đủ tin cậy và có khả năng kết nối. Hiện thông tin về doanh thu, hóa đơn, kế toán, thuế, tài khoản thanh toán và lịch sử tín dụng có thể nằm ở nhiều hệ thống khác nhau. Nếu thiếu chuẩn dữ liệu chung hoặc cơ chế chia sẻ phù hợp, ngân hàng khó xây dựng bức tranh đầy đủ về năng lực trả nợ của doanh nghiệp.
Theo ông Đào Minh Tú, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, đề xuất nghiên cứu xây dựng trung tâm dữ liệu chung về doanh nghiệp nhỏ và vừa trên phạm vi cả nước. Theo ông, các ngân hàng đã có hệ thống dữ liệu riêng, nhưng việc hình thành một cơ sở dữ liệu thống nhất có thể giúp nâng cao chất lượng đánh giá khách hàng và hỗ trợ mở rộng khả năng tiếp cận vốn.
Một hướng triển khai đang được chú ý là kết nối ngân hàng với các nền tảng cung cấp dịch vụ kế toán, hóa đơn điện tử và quản trị doanh nghiệp. Đại diện Tập đoàn MISA cho biết nền tảng MISA Lending hướng tới kết nối tổ chức tín dụng với doanh nghiệp nhỏ và vừa và hộ kinh doanh thông qua dữ liệu phát sinh trong hoạt động thực tế, gồm doanh thu, chi phí, công nợ và dòng tiền. Với sự đồng ý của khách hàng, dữ liệu có thể được chuyển đến ngân hàng để hỗ trợ quá trình thẩm định; quyết định cấp tín dụng vẫn thuộc về ngân hàng.
Dữ liệu hóa đơn điện tử cũng có thể hỗ trợ phát triển các hình thức tài trợ dựa trên khoản phải thu. Khi hóa đơn được xác minh, ngân hàng hoặc tổ chức tài chính có thể xem xét tài trợ trước thời điểm doanh nghiệp nhận tiền từ khách hàng. Cách làm này giúp rút ngắn chu kỳ vốn lưu động, đặc biệt với nhà cung cấp trong chuỗi sản xuất, phân phối. Dù vậy, cần kiểm tra tính xác thực của hóa đơn, nguy cơ tài trợ trùng khoản phải thu, tranh chấp thương mại và khả năng thanh toán của bên mua.
Về chính sách, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Văn bản số 7125/NHNN-TD ngày 7/8/2026 hướng dẫn triển khai chương trình tín dụng dành cho các động lực tăng trưởng kinh tế và doanh nghiệp nhỏ và vừa. Theo chương trình, lãi suất cho vay bằng đồng Việt Nam thấp hơn tối thiểu 1 điểm phần trăm mỗi năm so với lãi suất cho vay bình quân cùng kỳ hạn của chính ngân hàng cho vay. Đây là cơ chế hỗ trợ chi phí vốn, có thể kết hợp với việc cải thiện quy trình thẩm định để tăng khả năng tiếp cận tín dụng.
Tuy nhiên, công nghệ và dữ liệu không tự động loại bỏ rủi ro tín dụng. Dữ liệu kế toán có thể thiếu nhất quán, giao dịch tài khoản không phản ánh toàn bộ hoạt động kinh doanh, còn doanh thu trong quá khứ không bảo đảm khả năng trả nợ trong tương lai. Ngân hàng cần kết hợp dữ liệu số với thẩm định thực tế, kiểm tra mục đích sử dụng vốn và theo dõi dòng tiền sau giải ngân. Việc sử dụng dữ liệu cá nhân, dữ liệu thuế và thông tin giao dịch cũng phải tuân thủ quy định về bảo mật, quyền riêng tư và sự đồng ý hợp lệ của khách hàng.
Với doanh nghiệp, minh bạch dữ liệu không chỉ là điều kiện vay vốn mà còn là một bước nâng cấp quản trị. Việc tách bạch tài khoản cá nhân và kinh doanh, ghi nhận đầy đủ doanh thu – chi phí, quản lý công nợ và lập kế hoạch dòng tiền sẽ giúp doanh nghiệp hiểu rõ nhu cầu vốn thực tế, giảm phụ thuộc vào vay ngắn hạn để bù đắp những mất cân đối kéo dài.
Khi dữ liệu được chuẩn hóa, kết nối có kiểm soát và sử dụng minh bạch, ngân hàng có thể mở rộng tín dụng đến những khách hàng trước đây khó chứng minh năng lực tài chính. Bước tiếp theo là xây dựng hệ sinh thái dữ liệu đáng tin cậy, trong đó doanh nghiệp chủ động minh bạch, ngân hàng giữ vững kỷ luật tín dụng và cơ quan quản lý bảo đảm các chuẩn mực chia sẻ thông tin. Đó là nền tảng để dòng vốn đến đúng nhu cầu mà không đánh đổi an toàn hệ thống.
Phượng Hòa