06:44 03/09/2026

Giá nông sản hôm nay 3/9: Cà phê giảm, tiêu và lúa gạo đi ngang

Thị trường nông sản ngày 3/9 ghi nhận diễn biến phân hóa. Giá cà phê trong nước và thế giới tiếp tục giảm khi nguồn cung có dấu hiệu cải thiện, trong khi hồ tiêu duy trì ổn định sau nhịp điều chỉnh cuối tháng 8. Thị trường lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long cũng chưa ghi nhận biến động đáng kể.

Giá cà phê hôm nay tiếp tục giảm

Giá cà phê trong nước ngày 3/9 giảm đồng loạt 700 đồng/kg tại các vùng sản xuất trọng điểm Tây Nguyên. Mặt bằng giá thu mua hiện phổ biến trong khoảng 94.300–95.000 đồng/kg, giá bình quân khoảng 94.900 đồng/kg.

Tại Đắk Lắk, giá cà phê giảm xuống 94.800 đồng/kg. Gia Lai cũng ghi nhận mức 94.800 đồng/kg sau khi giảm 700 đồng/kg.

Lâm Đồng có giá 94.300 đồng/kg, tiếp tục là địa phương có mức giá thấp nhất trong nhóm khảo sát. Trong khi đó, Đắk Nông (Lâm Đồng mới) đứng ở mức cao nhất 95.000 đồng/kg, cũng giảm 700 đồng/kg so với phiên trước.

Như vậy, chênh lệch giữa mức giá cao nhất và thấp nhất trên thị trường hiện là 700 đồng/kg.

Giá nông sản hôm nay 39 Cà phê giảm tiêu và lúa gạo đi ngang

Trên thị trường thế giới, giá cà phê tiếp tục chịu áp lực giảm trên cả hai sàn London và New York.

Tại London, cà phê robusta giao tháng 9/2026 giảm 1,75%, tương đương 61 USD/tấn, xuống 3.431 USD/tấn. Hợp đồng giao tháng 11/2026 giảm 1,93%, tương đương 68 USD/tấn, còn 3.461 USD/tấn.

Trên sàn New York, arabica giao tháng 9/2026 giảm 0,48%, tương đương 1,65 US cent/pound, xuống 342,25 US cent/pound. Hợp đồng giao tháng 12/2026 giảm 0,66%, tương đương 2,05 US cent/pound, xuống 309,45 US cent/pound.

Theo Reuters và Barchart, mức giảm mới nhất đưa giá arabica xuống mức thấp nhất trong khoảng một tháng, trong khi robusta chạm mức thấp nhất trong khoảng 2,75 tháng.

Áp lực nguồn cung thể hiện rõ hơn ở phân khúc robusta. Xuất khẩu cà phê từ Việt Nam, quốc gia sản xuất robusta lớn nhất thế giới, đang tăng so với cùng kỳ năm trước, góp phần cải thiện nguồn cung trên thị trường.

Cùng với lượng hàng xuất khẩu gia tăng, tồn kho robusta đạt chuẩn trên sàn ICE cũng được bổ sung. Tính đến ngày 1/9, lượng tồn kho đạt 4.956 lô, mức cao nhất trong khoảng 9,25 tháng.

Trong khi đó, tồn kho arabica đạt chuẩn trên ICE ở mức 223.911 bao, thấp nhất trong khoảng 27 năm. Diễn biến trái chiều giữa hai nhóm cà phê cho thấy áp lực nguồn cung hiện tập trung rõ hơn ở robusta.

Theo Rabobank, triển vọng nguồn cung cà phê toàn cầu nhìn chung thuận lợi, dù hoạt động lưu chuyển hàng hóa vẫn gặp một số trở ngại do vụ thu hoạch tại Brazil chậm hơn và những ảnh hưởng từ động đất tại Colombia.

Tại Brazil, xuất khẩu cà phê conilon sang Bỉ tăng mạnh trong tháng 7, trong khi vụ thu hoạch đang bước vào giai đoạn cuối. Một số kho chứa tại nước này cũng đang ở gần mức tối đa, có khả năng thúc đẩy hoạt động bán ra của nhà sản xuất.

Ở chiều ngược lại, lượng mưa tại Minas Gerais trong tuần kết thúc ngày 30/8 đạt 8,9 mm, tương đương 127% mức trung bình lịch sử, được đánh giá có thể tạo điều kiện thuận lợi cho vụ cà phê tiếp theo.

Indonesia cũng ghi nhận xuất khẩu robusta từ Sumatra trong tháng 7 đạt 27.268 tấn, giảm 15,85% so với cùng kỳ năm trước và thấp hơn mức 29.275 tấn của tháng 6.

Giá hồ tiêu duy trì ổn định

Giá tiêu trong nước ngày 3/9 tiếp tục đi ngang trong khoảng 135.000–137.000 đồng/kg. Sau nhịp giảm vào cuối tháng 8, thị trường đang trải qua nhiều phiên ổn định.

Đắk Nông (Lâm Đồng) tiếp tục có mức giá cao nhất 137.000 đồng/kg. Đắk Lắk đứng ở mức 136.500 đồng/kg.

Tại Đồng Nai, Gia Lai và Bà Rịa - Vũng Tàu (TP. Hồ Chí Minh), giá tiêu cùng duy trì ở mức 135.000 đồng/kg. Khoảng cách giữa mức giá cao nhất và thấp nhất trên thị trường hiện là 2.000 đồng/kg.

Giá nông sản hôm nay 39 Cà phê giảm tiêu và lúa gạo đi ngang

Trên thị trường quốc tế, theo Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), tiêu đen Indonesia được chào bán ở mức 6.893 USD/tấn, giảm 4 USD/tấn so với phiên trước.

Tiêu đen ASTA 570 của Brazil giữ ở mức 5.800 USD/tấn, trong khi tiêu đen Malaysia đứng ở 9.300 USD/tấn. Giá tiêu đen xuất khẩu Việt Nam tiếp tục dao động 5.990–6.050 USD/tấn đối với các chủng loại 500 g/l và 550 g/l.

Ở phân khúc tiêu trắng, tiêu trắng Muntok của Indonesia giảm 5 USD/tấn xuống 9.438 USD/tấn. Tiêu trắng Việt Nam giữ ở mức 8.400 USD/tấn, còn Malaysia ở mức 12.200 USD/tấn.

Nhìn chung, biến động trên thị trường tiêu quốc tế hiện có biên độ hẹp. Trong nước, giá cũng chưa hình thành xu hướng mới sau giai đoạn điều chỉnh cuối tháng 8.

Giá lúa gạo bình ổn

Tại Đồng bằng sông Cửu Long, thị trường lúa gạo ngày 3/9 tiếp tục giao dịch trầm lắng, mặt bằng giá chưa có biến động đáng kể.

Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, lúa tươi OM34 có giá 5.900–6.000 đồng/kg; OM18 và Đài Thơm 8 cùng ở mức 6.600–6.700 đồng/kg; OM5451 ở mức 6.500–6.600 đồng/kg; IR50404 dao động 6.300–6.400 đồng/kg.

Thị trường tại các địa phương nhìn chung chưa sôi động, trong khi nguồn cung và sức mua tạm thời giữ thế cân bằng. Nhóm lúa thơm tiếp tục có mức giá cao hơn một số giống lúa phổ thông, nhưng lực mua chưa đủ mạnh để tạo ra một nhịp tăng mới.

Giá nông sản hôm nay 39 Cà phê giảm tiêu và lúa gạo đi ngang

Đối với gạo nguyên liệu xuất khẩu, IR504 và CL555 cùng ở mức 8.900–8.950 đồng/kg; OM5451 đạt 9.300–9.400 đồng/kg; OM18 ở mức 8.700–8.850 đồng/kg; Đài Thơm 8 ở mức 9.200–9.400 đồng/kg; OM380 và Sóc thơm cùng dao động 7.500–7.600 đồng/kg.

Giá phụ phẩm dao động trong khoảng 7.450–8.750 đồng/kg. Trong đó, tấm thơm ở mức 8.600–8.750 đồng/kg, còn cám ở mức 7.550–7.650 đồng/kg.

Tại thị trường bán lẻ, giá gạo tiếp tục ổn định. Gạo Nàng Nhen có giá 28.000 đồng/kg; Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài 20.000–22.000 đồng/kg; Nàng Hoa 21.000 đồng/kg.

Gạo thơm Jasmine dao động 16.500–18.000 đồng/kg; Đài thơm 15.500–17.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng 16.000 đồng/kg; gạo thường 13.500–15.500 đồng/kg; Sóc thường 14.000–15.000 đồng/kg; Sóc Thái 20.000 đồng/kg; gạo Nhật 22.000 đồng/kg và OM18 ở mức 15.500–16.500 đồng/kg.

Trên thị trường xuất khẩu, gạo thơm 5% tấm của Việt Nam được chào bán 470–480 USD/tấn; gạo thơm 100% tấm ở mức 373–377 USD/tấn; Jasmine ở mức 534–538 USD/tấn.

Tại Thái Lan, gạo 5% tấm dao động 453–457 USD/tấn, gạo 100% tấm ở mức 366–370 USD/tấn. Trong khi đó, gạo 5% tấm của Ấn Độ ở mức 364–368 USD/tấn và gạo 100% tấm ở mức 304–308 USD/tấn.

Trung Anh