Xuất khẩu là một trong những trụ cột kinh tế quan trọng của Việt Nam nhưng đã xuất hiện dấu hiệu suy giảm từ tháng 9/2022 và kéo dài đến cuối năm 2022. Song xuất khẩu 2023 đang đứng trước rất nhiều khó khăn, thách thức ở cả nội tại - bên trong của nền kinh tế và những tác động từ bên ngoài.
Xuất khẩu - Động lực tăng trưởng của nền kinh tế 2022
Năm 2022, nền kinh tế thế giới có nhiều biến động đã tác động rất lớn tới kinh tế - xã hội của Việt Nam, đặc biệt là hoạt động xuất nhập khẩu (XNK). Nhưng với sự nỗ lực của các doanh nghiệp (DN), sự hỗ trợ, đồng hành của Chính phủ và các bộ ngành, kim ngạch XNK năm 2022 đã cán đích sau 11 tháng với mức 673,82 tỷ USD.
Đây là kết quả ấn tượng, điểm sáng của nền kinh tế trong năm 2022. Với kết quả này, các chuyên gia kinh tế nhận định, xuất khẩu (XK) tiếp tục là động lực tăng trưởng của nền kinh tế trong năm 2023 và những năm tiếp theo.
Theo số liệu công bố của Bộ Công Thương tại hội nghị tổng kết 2022 cho thấy, xuất khẩu năm 2022 đạt khoảng 371,5 tỷ USD, tăng 10,5% so với 2021. Đây là lần đầu kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam vượt mốc 700 tỷ USD.
Trong số các mặt hàng xuất khẩu, có 39 mặt hàng đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD, tăng 4 so với năm ngoái. 9 mặt hàng ghi nhận kim ngạch trên 10 tỷ USD.
Nhóm hàng công nghiệp chế biến tiếp tục chiếm tỷ trọng chủ yếu trong cơ cấu xuất khẩu, chiếm hơn 86% tổng kim ngạch xuất khẩu.
Ở chiều nhập khẩu, kim ngạch ghi nhận cả năm là 360,5 tỷ USD, tăng 8,5% so với 2021, kiểm soát tốt các mặt hàng hạn chế nhập khẩu.
Tính chung xuất nhập khẩu năm nay đã lần đầu vượt 700 tỷ USD, đạt 732 tỷ USD đưa Việt Nam vào nhóm các nền kinh tế hàng đầu về thương mại quốc tế. Nhờ đó, cán cân thương mại thặng dư năm thứ 7 liên tiếp, với giá trị gần 11 tỷ USD, góp phần ổn định tỷ giá, dự trữ ngoại hối...
Theo Thứ trưởng Bộ Công Thương Trần Quốc Khánh, cơ cấu hàng hóa xuất khẩu tiếp tục cải thiện theo chiều hướng tích cực, giảm hàm lượng xuất khẩu thô, tăng xuất khẩu sản phẩm chế biến, sản phẩm công nghiệp, tạo điều kiện cho hàng hóa Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu.
Nhân diện thách thức
Tuy nhiên, cũng theo Thứ trưởng Bộ Công Thương Trần Quốc Khánh, xuất khẩu tăng chậm lại từ quý IV, thị trường bị thu hẹp, đơn hàng giảm, cạnh tranh trên thị trường quốc tế gia tăng. Một số mặt hàng chi phí nguyên vật liệu đầu vào tăng cao, trong khi giá xuất khẩu giảm, đã làm giảm sức cạnh tranh sản phẩm... Việc này, theo Bộ Công Thương, đã ảnh hưởng lớn tới tốc độ tăng xuất khẩu chung cả nước.
Cùng đó, xuất khẩu tăng cao nhưng mức độ phụ thuộc vào khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) lớn, chiếm khoảng 74% tổng kim ngạch xuất khẩu. Ngược lại, năng lực xuất khẩu các doanh nghiệp trong nước, nhất là vừa và nhỏ, chưa cao.
Cũng theo ông Khánh, tốc độ đa dạng hoá thị trường một số sản phẩm, như rau quả, còn chậm nên chưa đáp ứng các yêu cầu về tiêu chuẩn, chất lượng, hay tận dụng tốt các FTA đã ký. Việc chuyển từ xuất khẩu tiểu ngạch sạch chính ngạch còn chậm.
Nhiều vấn đề tiêu cực cho nền kinh tế đã bộc lộ rõ ràng trong năm 2022 và vẫn có thể là thách thức trong năm 2023.
Đó là: (1) lạm phát toàn cầu gia tăng, đặc biệt là ở châu Âu (EU, một trong hai thị trường xuất siêu của Việt Nam trong năm 2022, quốc gia còn lại là Mỹ) khiến sức mua suy giảm; (2) các đợt tăng lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) và Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) nhằm giảm áp lực lạm phát; (3) xung đột Nga - Ukraine dẫn đến tình trạng thiếu lương thực và năng lượng; (4) tình hình địa chính trị tiềm ẩn căng thẳng (vấn đề Đài Loan, Nga); (5) khả năng bùng phát trở lại của các dịch bệnh và trên hết là các biện pháp đối phó có thể quá mức; (6) nguy cơ suy thoái kinh tế ở châu Âu có khả năng làm suy yếu dòng chảy thương mại cũng đang rình rập trong năm 2023.
Sự sụt giảm về số lượng đơn hàng và lượng xuất khẩu đối với các mặt hàng chủ lực của Việt Nam, như: dệt may, da giày, sắt thép, hạt điều,… nhiều khả năng tiếp diễn trong năm 2023. Ngoài ra, đơn hàng và giá trị xuất khẩu các mặt hàng không thiết yếu như đồ nội thất bằng gỗ sang thị trường châu Âu cũng có thể bị giảm sút.
Giá dầu trong thời gian tới có thể bị tác động từ nhiều yếu tố có diễn biến ngày càng phức tạp, khó lường. Sự biến động của giá dầu có tác động rất lớn tới nền kinh tế, chính sách tiền tệ của rất nhiều quốc gia trên thế giới, bao gồm Việt Nam. Đây là biến số phức tạp mà Việt Nam cần theo dõi kỹ và có đối sách phù hợp.
Tình trạng thiếu nguyên liệu đầu vào cho các ngành xuất khẩu như may mặc và da giày có thể chưa được giải quyết triệt để vào năm 2023.
Từ trong nước, thách thức lớn đối với các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam là thiếu vốn, đặc biệt là nguồn vốn với mức lãi suất chấp nhận được. Sản xuất kinh doanh vẫn còn một số khó khăn do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, cộng với đơn hàng giảm, cung vượt cầu khiến doanh thu của nhiều doanh nghiệp xuất khẩu trong nước sụt giảm, gây khó khăn cho dòng tiền lưu động.
Trong khi đó, việc tiếp cận vốn vay hiện nay cũng khá thách thức đối với doanh nghiệp khi lãi suất ngày càng tăng, các ngân hàng thương mại hạn chế tín dụng và việc dùng bất động sản làm tài sản thế chấp khó khăn hơn trước.
Bên cạnh đó, việc nhà đầu tư mất niềm tin vào thị trường trái phiếu doanh nghiệp làm giảm tính hiệu quả của kênh huy động vốn này trong ngắn, trung và dài hạn.
Xuất khẩu là một trong những trụ cột kinh tế quan trọng của Việt Nam. (Ảnh minh họa)
Giải pháp nào để giữ đà tăng trưởng?
Mặc dù xuất khẩu của Việt Nam đối mặt với nhiều thách thức nhưng nhìn chung, triển vọng xuất khẩu của Việt Nam sang một số thị trường lớn như EU trong năm 2023 được đánh giá là khả quan.
Một mặt, nhu cầu đối với hàng hóa Việt Nam tại thị trường EU ngày càng tăng, từ nông sản, dệt may đến máy móc và thiết bị điện. Mặt khác, EVFTA là một trợ lực rất tuyệt vời cho triển vọng xuất khẩu sang EU. Hầu hết các loại thuế quan sẽ được giảm xuống bằng 0. Tuy các tiêu chuẩn và định mức của EU có tính ràng buộc theo hợp đồng, nhưng đây không phải là bất lợi vì nó làm tăng chất lượng của sản phẩm Việt Nam. Nếu làm tốt ở EU, hàng hóa của Việt Nam cũng sẽ tăng tính cạnh tranh trên các thị trường khác.
Từ phía doanh nghiệp, các công ty Việt Nam nên khắc phục tình trạng lệ thuộc vào một hoặc một vài đối tác kinh doanh và thương mại. Một điểm quan trọng nữa là các doanh nghiệp cần tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước cũng như thị trường thế giới.
Từ phía Chính phủ, một số giải pháp có thể áp dụng để không chỉ giữ nhịp xuất khẩu mà còn biến năm 2023 thành một năm thành công.
Thứ nhất, tiếp tục tạo môi trường thuận lợi cho kinh doanh. Những mục tiêu mà Việt Nam đã theo đuổi trong nhiều năm qua là cải cách thủ tục hành chính, giảm quan liêu, tăng cường minh bạch và các chính sách khuyến khích nhằm thu hút đầu tư nước ngoài.
Thứ hai, duy trì việc cải cách thể chế nhằm xây dựng kinh tế thị trường và thúc đẩy thương mại tự do, tận dụng hơn nữa các hiệp định thương mại tự do.
Thứ ba, tiếp tục duy trì chính sách tiền tệ và tài khóa thận trọng. Nợ công, lý thuyết tiền tệ hiện đại và chủ nghĩa Keynes không tốt cho việc duy trì tính cạnh tranh của Việt Nam.
Thứ tư, cần có các giải pháp tài chính hợp lý để hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua khó khăn về vốn, từ đó thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh và tăng trưởng.
Thứ năm, Chính phủ cần khuyến khích các công ty Việt Nam chuẩn bị sẵn sàng cho sự thay đổi. Nền kinh tế Việt Nam năng động và phát triển nhanh, vì vậy, các doanh nghiệp cần linh hoạt thích nghi để thành công.
Trong ngắn hạn, có thể sẽ có những thách thức về chính sách kinh tế vào năm 2023, chủ yếu là do tình hình toàn cầu còn bất ổn. Song, triển vọng phát triển của Việt Nam là tích cực trong trung và dài hạn. Cơ sở vững chắc cho sự lạc quan này chính là cam kết rõ ràng của Chính phủ Việt Nam về thương mại tự do, bảo hộ đầu tư, kinh tế thị trường và hội nhập vào chuỗi giá trị quốc tế; cùng với tình hình tài chính công lành mạnh và các chính sách thận trọng của Ngân hàng Nhà nước.
Đức Minh (t/h)