10:48 29/10/2019

Gian nan con đường xuất khẩu nông sản chính ngạch

Hàng hóa nông sản Việt Nam hiện nay đang tìm được chỗ đứng trên thị trường thế giới với vị trí thứ 15 trong số các quốc gia xuất khẩu nông sản khi đạt tới giá trị xuất khẩu kỷ lục 40,02 tỷ USD năm 2018. Mặc dù vậy, sự tăng trưởng của ngành nông nghiệp Việt Nam vẫn trong tình trạng thiếu bền vững do nông sản chủ yếu được xuất khẩu theo đường tiểu ngạch với tỉ lệ rủi ro cao. Trong khi đó, con đường xuất khẩu chính ngạch giúp nâng cao giá trị hàng hóa lại còn nhiều gian nan phía trước.

Xuất khẩu nông sản Việt Nam trong bối cảnh hiện nay

Là một quốc gia có truyền thống sản xuất nông nghiệp lâu đời, Việt Nam đã vươn lên trở thành một “cường quốc” xuất khẩu nông sản trên thế giới. Nông sản Việt Nam hiện đang trong thời kỳ phát triển và có mặt tại thị trường của hơn 180 quốc gia và vùng lãnh thổ. Theo đó, thị phần xuất khẩu của Việt Nam đều được duy trì, củng cố và mở rộng qua từng năm.

Tính đến năm 2019, thị trường chính xuất khẩu các mặt hàng nông sản của Việt Nam gồm có: Trung Quốc là thị trường lớn nhất, chiếm 22,9% thị phần; đứng tiếp theo là Nhật Bản với 19,1%; Mỹ chiếm 17,9%; ASEAN chiếm 10,64%; Hàn Quốc chiếm 6,9%. Các thị trường này có mức xuất khẩu tăng trưởng lần lượt là 3,6%; 9,4%; 7,1%; 11,0% và 29,4% so với năm trước đó.

Trong năm qua, thị trường nông sản thế giới có nhiều biến động và khó khăn, nhưng giá trị xuất khẩu một số mặt hàng nông sản chủ lực của nước ta vẫn có bước tăng trưởng. Theo đó, ngành nông nghiệp tiếp tục duy trì 10 nhóm mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu hơn 1 tỉ USD, trong đó có một số mặt hàng đạt giá trị xuất khẩu ở mức cao như: Rau quả đạt 3,82 tỉ USD (tăng 9,2% so với năm 2017); cà phê đạt 3,54 tỉ USD (tăng 1,2%); đặc biệt xuất khẩu gạo đạt 3,05 tỉ USD (tăng 16,0%).

Tuy nhiên, mặc dù xuất khẩu nông sản Việt Nam đang trong thời kỳ phát triển, nhưng trên thực tế, chỉ có khoảng 5% nông sản của nước ta đủ tiêu chuẩn chất lượng để đi theo con đường xuất khẩu chính ngạch vào các thị trường có yêu cầu cao về chất lượng như: Mỹ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc… còn lại phần lớn được xuất theo con đường tiểu ngạch. Nguyên nhân là do xuất khẩu tiểu ngạch có mức thuế suất thấp hơn thuế xuất nhập khẩu chính ngạch, thủ tục dễ dàng, chỉ cần một tờ khai tiểu ngạch, chi phí biên mậu là có thể xuất được hàng, không cần hóa đơn, chứng từ thanh toán, hợp đồng ngoại thương như qua đường chính ngạch. Dù vậy, con đường tiểu ngạch thường không có tính ổn định, rủi ro cao, giá trị mỗi giao dịch nhỏ, để xuất nhập khẩu lượng hàng hóa lớn sang các nước trên thế giới thì hình thức tiểu ngạch này không thể đảm bảo an toàn cho doanh nghiệp.

Điển hình với thị trường Trung Quốc - thị trường xuất khẩu nông sản lớn nhất của Việt Nam. Chỉ tính riêng 8 tháng đầu năm 2019, trong hơn 2.548 triệu USD kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng rau củ quả thì xuất sang Trung Quốc đã đạt đến hơn 1.754 triệu USD, chiếm hơn 68,8% giá trị. Dù có bạn hàng lớn ở ngay bên cạnh, những xuất khẩu nông sản Việt Nam vẫn chưa đạt được giá trị và bước đi bền vững do nền kinh tế Trung quốc bị ảnh hưởng từ cuộc chiến thương mại nên tăng trưởng chậm trong vài năm trở lại đây khiến cho xu hướng xuất khẩu nông sản sang thị trường này giảm mạnh từ năm 2018 đến nay. Theo thống kê, kim ngạch xuất khẩu hầu hết các mặt hàng nông sản trong 8 tháng đầu năm 2019 đã giảm so với cùng kỳ năm trước. Trong đó rau quả đạt 240 triệu USD, giảm 0,6%; hạt điều đạt 272 triệu USD, giảm 9,4%; cà phê đạt 220 triệu USD, giảm 20%; gạo đạt 252 triệu USD, giảm 4,2%...

Trái lại, xuất khẩu chính ngạch với hợp đồng mua bán đầy đủ, ràng buộc giữa bên mua và bên bán theo quy định và thông lệ quốc tế, đảm bảo an toàn cho doanh nghiệp đã giải quyết những hạn chế của xuất khẩu tiểu ngạch.

Gian nan tìm bước đi chính ngạch

Hiện nay, một số loại nông sản của Việt Nam đã khẳng định được chất lượng và thương hiệu trên con đường xuất khẩu chính ngạch và có mặt tại thị trường bán lẻ của các quốc gia có yêu cầu khắt khe về tiêu chuẩn, chất lượng như: Nhật Bản, Mỹ, EU… Nhưng trước khi làm được điều đó, các doanh nghiệp sản xuất cũng như các đầu mối tiêu thụ, phân phối sản phẩm phải vượt qua được rất nhiều khó khăn, tồn tại.

Để hàng hóa nông sản đi theo con đường chính ngạch, yếu tố đầu tiên cần phải đạt được đó là chất lượng. Nông sản Việt Nam cần đáp ứng các tiêu chuẩn về sản xuất sạch như VietGAP, cao hơn là GlobalGAP. Nhờ điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng thích hợp, Việt Nam có đa dạng chủng loại nông sản với năng suất ngày càng tăng, nhưng không phải tất cả các mặt hàng đều đáp ứng được các yêu cầu về chất lượng để xuất khẩu chính ngạch. Nguyên nhân là do nông dân vẫn áp dụng theo phương pháp canh tác truyền thống và sử dụng quá mức thuốc bảo vệ thực vật khiến tồn dư thuốc vượt ngưỡng cho phép. Bên cạnh đó, khâu chế biến, bảo quản sau thu hoạch cũng còn nhiều hạn chế dẫn đến chất lượng sản phẩm chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu của đối tác nên bị trả về. Trung bình mỗi năm, Việt Nam có hàng nghìn mặt hàng xuất khẩu sang các nước Australia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ, New Zealand… bị trả về do những nguyên nhân trên.

Rào cản thứ hai nông sản Việt cần vượt qua để được đi chính ngạch là vấn đề về xuất xứ, bảo hộ. Hiện nay các thị trường nông sản lớn của Việt Nam đang tăng cường bảo hộ bằng việc thường xuyên rà soát, điều chỉnh các quy định về quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm và gia tăng tần suất kiểm tra. Đặc biệt với việc hội nhập kinh tế sâu rộng thông qua các hiệp định thương mại tự do, ngoài những lợi ích đạt được về thuế suất, hàng nông sản Việt còn phải đối mặt với các vấn đề về truy xuất nguồn gốc xuất xứ, nhất là với các nguyên liệu được nhập khẩu phục vụ cho chế biến sản phẩm nông sản xuất khẩu. Ngoài ra, Trung Quốc cũng không còn là thị trường dễ tính khi đang có xu hướng nâng cao tiêu chuẩn về chất lượng nông sản nhập khẩu và tăng cường quản lý, siết chặt thương mại biên giới. Đồng thời, đây cũng là đối thủ cạnh tranh lớn về nông sản của Việt Nam do Trung Quốc cũng xuất khẩu mạnh các mặt hàng rau, củ, quả.

Bên cạnh đó, các yếu tố về quy hoạch sản lượng, sản xuất ồ ạt nhưng chưa chú trọng chất lượng, cùng với sự phụ thuộc vào các thị trường lớn cũng là những rào cản ngăn bước xuất khẩu chính ngạch của nông sản Việt.

Để “dọn đường” cho nông sản Việt Nam được xuất khẩu bằng đường chính ngạch, giúp tăng giá trị xuất khẩu, cần có sự phối hợp vào cuộc giữa các cơ quan liên quan với các doanh nghiệp. Cần có chính sách khuyến khích liên kết giữa các doanh nghiệp nhằm tạo nguồn lực mạnh mẽ đầu tư vào chuỗi sản xuất khép kín quy mô lớn, đồng bộ, từ khâu quy hoạch gieo trồng, sản xuất, chế biến đến bao tiêu sản phẩm. Chú trọng khâu chế biến sâu nhằm tăng giá trị sản phẩm. Song song với việc đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại nhằm quảng bá sản phẩm rộng rãi trên thị trường thế giới, giúp tìm kiếm những thị trường mới, giảm sự phục thuộc vào các thị trường truyền thống. Qua đó từng bước tháo gỡ những tồn tại, hạn chế đang cản trở, để con đường xuất khẩu chính ngạch sẽ là bước đi bền vững, đem lại giá trị cao cho nông sản Việt Nam.

Hà Hiền