18:56 17/12/2025

Hải Phòng làm OCOP từ đất đến sao

Nghị quyết 51/2025/NQ-HĐND của Hải Phòng là một ví dụ điển hình về việc chính quyền địa phương sử dụng công cụ chính sách để định hình lại ngành nông nghiệp, hướng đi rất rõ, hiện đại hơn, bền vững hơn và tạo ra giá trị gia tăng cao hơn.

Đã bao giờ chúng ta tự hỏi hành trình đằng sau một sản phẩm OCOP mà ta thấy trên kệ siêu thị bắt đầu từ đâu?

Hành trình này không phải chỉ bắt đầu từ hạt giống mà đôi khi là từ một văn bản chính sách. Tháng 12 này, Hải Phòng có một văn bản như vậy, đây là Nghị quyết mới của HĐND thành phố Hải Phòng sẽ có hiệu lực từ đầu năm 2026.

Và thay vì chỉ phân tích các điều khoản khô khan, hãy thử làm một việc khác, hãy vào vai một người nông dân, một hợp tác xã ở Hải Phòng. Họ đang có một khát vọng là tạo ra một sản phẩm OCOP năm sao và Nghị quyết này chính là tấm bản đồ kho báu mà chính quyền thành phố Hải Phòng vừa trao cho họ.

Một chính sách chỉ thực sự sống khi nó giải quyết được vấn đề cụ thể của con người trong thực tiễn. Tấm bản đồ này thực chất là sự hợp nhất của rất nhiều chính sách nhỏ lẻ trước đây; Tạo thành một con đường rõ ràng hơn, một lộ trình chiến lược cho cả giai đoạn 5 năm tới, từ 2026 đến 2030.

Hải Phòng làm OCOP từ đất đến sao
Nghị quyết 51: Thành phố Hải Phòng quyết tâm xây dựng nền nông nghiệp hiện đại, bền vững và giá trị cao.

Vậy, người nông dân của chúng ta sẽ bắt đầu hành trình từ đâu? Chắc chắn là từ đất đai rồi. Muốn làm lớn, muốn có sản phẩm OCOP thì không thể manh mún được.

Điểm khởi đầu của mọi nền nông nghiệp quy mô lớn chính là tích tụ đất đai. Và Điều 5 trong Nghị quyết này chính là bước đi đầu tiên đó. Cụ thể, nếu một tổ chức hay cá nhân nào thuê đất nông nghiệp để làm một vùng sản xuất tập trung, tối thiểu là 5 ha thì sẽ được thành phố hỗ trợ một lần là 10 triệu đồng/ha. Chính sách này khuyến khích rất mạnh mẽ cho việc “dồn điền đổi thửa” để khắc phục tình trạng ruộng đất manh mún.

Vấn đề tiếp theo là làm sao để kiểm soát được môi trường sản xuất. Thời tiết thì ngày càng khắc nghiệt, không thể “trông trời, trông đất, trông mây” mãi được. Đó là lúc mà nhà màng, nhà lưới phát huy tác dụng, con số hỗ trợ cho hạng mục này rất ấn tượng. Điều 6 ghi rõ luôn, hỗ trợ 100.000 đồng cho mỗi mét vuông xây dựng nhà lưới, nhà màng, miễn là diện tích tối thiểu phải 1.000 m².

Thử làm một phép tính nhanh, nếu một hợp tác xã đầu tư là một khu nhà màng khoảng 2.000 m², họ sẽ nhận được 200 triệu đồng. Số tiền này có thể thay đổi hoàn toàn quy mô và cách thức sản xuất của họ.

Con số đó cho thấy một sự đầu tư rất nghiêm túc vào nông nghiệp công nghệ cao. Nó không chỉ giúp che mưa che nắng mà nó còn ngăn sâu bệnh, giảm thuốc trừ sâu, tiết kiệm nước tưới và quan trọng nhất nó tạo ra một môi trường sản xuất ổn định. Sự ổn định này chính là điều kiện tiên quyết để có được sản phẩm chất lượng đồng đều, yếu tố sống còn để xây dựng thương hiệu OCOP sau này.

Vậy là đã có đất đai tập trung, có nhà màng hiện đại, chính sách hỗ trợ về mặt cơ sở hạ tầng có vẻ đã ổn. Nhưng để vận hành trên một quy mô lớn thì sức người có hạn, chắc chắn phải cần đến máy móc.

Đó chính là mảnh ghép thứ ba trong nền tảng sản xuất, và Điều 8 của Nghị quyết giải quyết đúng bài toán cơ giới hóa này: Hỗ trợ một lần tối đa 30% chi phí mua máy móc mới nhưng không quá 200 triệu đồng. Tổng mức hỗ trợ cho một đơn vị có thể lên tới 1 tỷ đồng.

Danh mục được hỗ trợ không chỉ có máy cấy, máy gặt quen thuộc mà có cả những thứ rất hiện đại như là thiết bị bay không người lái để phun thuốc, bón phân, thậm chí còn hỗ trợ cả kho lạnh, máy sấy, máy chế biến. Đây không chỉ là cơ giới hóa trồng trọt, một điểm rất tinh tế của chính sách, chính quyền thành phố Hải Phòng không chỉ quan tâm đến việc tạo ra sản phẩm mà còn là chú trọng đến chính sách hỗ trợ người nông dân bảo quản sản phẩm, bảo vệ thành quả lao động.

Tổn thất sau thu hoạch là một vấn đề rất nhức nhối của nông nghiệp Việt Nam. Một kho lạnh có thể cứu cả một vụ mùa khỏi việc bị ép giá hoặc là hư hỏng. Việc hỗ trợ máy móc chế biến cũng cho thấy tầm nhìn hướng tới việc tạo ra sản phẩm có giá trị gia tăng chứ không chỉ là bán thô. Tuy nhiên, có một điều khoản rằng buộc khá chặt chẽ trong chính sách hỗ trợ cơ giới hóa, máy móc được hỗ trợ phải cam kết không bán, không chuyển nhượng trong 3 năm.

Nghe có vẻ hơi cứng nhắc, liệu có phải chính sách này đang gây khó dễ hay là không tin tưởng người nông dân không? Không, đây là biện pháp chống lại căn bệnh kinh niên - đầu cơ chính sách.

Trước đây đã có không ít trường hợp, nơi này nơi kia hỗ trợ xong thì máy móc biến mất khỏi đồng ruộng rồi xuất hiện trên thị trường đồ cũ. Điều khoản này đảm bảo tiền thuế của người dân tạo ra năng lực sản xuất thật, một tài sản thực sự cho nền nông nghiệp địa phương chứ không phải là một món hời ngắn hạn cho vài cá nhân.

Hải Phòng làm OCOP từ đất đến sao
Nghị quyết 51 hình thành 3 trụ cột chiến lược phát triển nông nghiệp Hải Phòng.

Đến đây, người nông dân trong câu chuyện của chúng ta đã có đủ cơ sở hạ tầng, đất rộng, nhà xưởng và máy móc hiện đại. Nhưng sản phẩm làm ra trong môi trường lý tưởng đó làm sao để người tiêu dùng tin tưởng? Làm sao để người tiêu dùng biết nó khác biệt với hàng ngoài chợ?

Chắc chắn phải có một con dấu bảo chứng nào đó, đó chính xác là lúc tấm vé thông hành xuất hiện. Không có chúng, sản phẩm dù tốt đến đâu cũng chỉ loanh quanh trong làng xã mà thôi. Và Điều 7 của Nghị quyết tập trung vào việc giúp người nông dân có được những tấm vé này.

Chính sách hỗ trợ sản xuất theo tiêu chuẩn chất lượng có sự phân mức rất rõ ràng. Cụ thể, nếu sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP sẽ được hỗ trợ 5 triệu đồng/ha. Nhưng nếu theo tiêu chuẩn hữu cơ Global Gap hay là Hala, mức hỗ trợ lên tới 15 triệu đồng/ha, gấp ba lần. Tại sao lại có sự thiên vị như vậy? Liệu có phải đang bỏ rơi thị trường nội địa để chạy theo xuất khẩu không?

Đây không phải là sự thiên vị mà là định hướng chiến lược, ở đây có một sự phân cấp rất rõ ràng. Cứ hình dung VietGAP là chứng minh thư để sản phẩm được vào các siêu thị trong nước chứng tỏ nó an toàn, nhưng Global Gap mới là hộ chiếu để nông sản Việt có thể đặt chân lên kệ hàng ở châu Âu, ở Mỹ. Còn Halal thì là visa đặc biệt để vào thị trường Hồi giáo khổng lồ với gần 2 tỷ dân.

Mức hỗ trợ khác nhau chính là sự khuyến khích để người nông dân nỗ lực xin được những tấm hộ chiếu và visa quyền lực hơn, để vươn ra những thị trường có giá trị cao hơn. Chính sách này không chỉ áp dụng cho trồng trọt, Điều 10 cũng hỗ trợ 100% chi phí, tối đa 70 triệu để các cơ sở chăn nuôi, thủy sản sản đánh giá đạt chứng nhận tương tự.

Điều này thể hiện một cách tiếp cận rất toàn diện, chính quyền thành phố Hải Phòng muốn nâng cao chất lượng trên toàn bộ các lĩnh vực nông nghiệp chủ lực của thành phố. Tất cả đều phải đi theo con đường sản xuất có tiêu chuẩn, có chứng nhận, nền tảng vững chắc để xây dựng thương hiệu. Và khi đã có thương hiệu, có chất lượng được công nhận đó là lúc người nông dân của chúng ta tiến đến mục tiêu cuối cùng là được gắn sao.

Sau hành trình dài chuẩn bị từ đất đai, công nghệ cho đến các chứng nhận khắt khe cuối cùng cũng đến lúc nhận “giải thưởng” hỗ trợ cho các sản phẩm OCOP. Quy định tại Điều 11 chắc chắn là điều mà nhiều người quan tâm, đây có thể coi là phần thưởng cho sự xuất sắc, một sự công nhận chính thức từ chính quyền, các con số rất cụ thể sản phẩm: OCOP đạt ba sao được thưởng 43 triệu đồng, bốn sao là 45 triệu và năm sao là 50 triệu.

Con số có vẻ không quá lớn so với tổng chi phí đầu tư, nhưng có một chi tiết rất thú vị. Nếu một sản phẩm đã đạt OCOP ba sao, sau đó nỗ lực để nâng hạng lên bốn sao, họ sẽ được nhận thêm phần thưởng chênh lệch.

Chi tiết nhỏ nhưng lại cực kỳ quan trọng, nó tạo ra một động lực liên tục để cải tiến, để không ngủ quên trên chiến thắng. Nó nói với các chủ thể rằng đừng dừng lại. Và đúng là khoản tiền thưởng này nếu so với chi phí xây nhà màng hay mua máy bay không người lái thì không thấm vào đâu. Nhưng ý nghĩa của nó lớn hơn tiền rất nhiều, đó là thương hiệu.

Khi một sản phẩm được gắn sao OCOP, nó như được đóng một dấu bảo chứng về chất lượng và nguồn gốc. Nó giúp người tiêu dùng tin tưởng hơn, dễ dàng đưa sản phẩm vào các kênh phân phối hiện đại như siêu thị, chuỗi cửa hàng tiện lợi, sàn thương mại điện tử.

Khoản tiền thưởng này về bản chất là một cú hích về cả tinh thần và marketing, tạo ra một cuộc đua về chất lượng giữa các nhà sản xuất. Vậy là người nông dân của chúng ta đã có trong tay một sản phẩm tốt, lại còn được gắn sao danh giá. Tới đây hành trình mới được một nửa, nửa còn lại và cũng là nửa khó khăn không kém.

Hải Phòng làm OCOP từ đất đến sao
Nghị quyết 51 hỗ trợ liên kết và xúc tiến thương mại cho người nông dân. 

Tiếp đến là làm sao để bán được sản phẩm đó? Làm sao để thị trường biết đến sản phẩm OCOP?

Đây là lúc Điều 12 và 13 trong tấm bản đổ kho báu này trở thành những mảnh ghép cuối cùng hoàn thiện bức tranh, hỗ trợ liên kết sản xuất và tiêu thụ. Và có một điểm rất thực tế, hỗ trợ 100% chi phí thiết kế in ấn bao bì nhán mác sản phẩm.

Chi tiết này tưởng nhỏ nhưng lại là một bước đi chiến lược, vì Bao bì chính là người bán hàng thầm lặng. Một sản phẩm OCOP dù chất lượng bên trong tuyệt vời đến đâu nhưng nếu bao bì sơ xài, thiếu chuyên nghiệp thì cũng rất khó cạnh tranh trên kệ hàng.

Hỗ trợ 100% chi phí này cho thấy người làm chính sách hiểu rất rõ rằng “tốt gỗ” thôi chưa đủ, “nước sơn” cũng phải tốt. Và khi sản phẩm đã có ngoại hình bắt mắt rồi thì phải mang nó đi chào hàng.

Điều 13 về xúc tiến thương mại được sinh ra để làm việc đó. Ngân sách thành phố dành tới 5 tỷ đồng mỗi năm cho các hoạt động quảng bá chung. Ngoài ra còn hỗ trợ trực tiếp cho các cơ sở mang sản phẩm đi hội trợ, triển lãm. Mức hỗ trợ cũng rất cụ thể và khuyến khích vươn xa.

Nếu tham gia hội trợ ở miền Bắc được hỗ trợ 10 triệu đồng, miền Trung được 15 triệu đồng và nếu Nam tiến thì mức hỗ trợ là 20 triệu đồng mỗi lần tham gia.

Đây rõ ràng là lời giải cho bài toán đầu ra, không phải là một sự hỗ trợ chung chung mà là những hành động rất cụ thể để đưa sản phẩm đến với người tiêu dùng. Giống như việc chính quyền thành phố nói rằng: Các bạn cứ tập trung làm ra sản phẩm tốt nhất có thể, còn việc đưa nó ra thị trường chúng tôi sẽ hỗ trợ một phần.

Tổng kết lại cả hành trình, chúng ta thấy một tư duy làm chính sách rất hoàn chỉnh. Nó đi từ gốc đến ngọn, tạo điều kiện về đất đai và công nghệ để sản xuất tốt, khuyến khích tiêu chuẩn để chất lượng tốt, trao thưởng OCOP để thương hiệu tốt và cuối cùng là hỗ trợ bao bì, quảng bá để bán hàng tốt. Nghị quyết này đã tạo ra một vòng tròng khép kín.

Thông qua việc theo chân người nâng dân trên tấm bản đồ này, chúng ta đã thấy được một chiến lược rất bài bản của chính quyền thành phố Hải Phòng. Họ không chỉ hỗ trợ tiền mà đang thực sự xây dựng một đường băng vững chắc để nông sản cất cánh. Từ một mảnh đất trống, qua từng bước hỗ trợ, một sản phẩm tiềm năng đã hình thành và sẵn sàng ra thị trường.

Nghị quyết 51/2025/NQ-HĐND của Hải Phòng là một ví dụ điển hình về việc chính quyền địa phương sử dụng công cụ chính sách để định hình lại ngành nông nghiệp, hướng đi rất rõ, hiện đại hơn, bền vững hơn và tạo ra giá trị gia tăng cao hơn. Đây không phải là những hỗ trợ nhỏ lẻ, chắp vá mà là một chiến lược có hệ thống, có tầm nhìn dài hạn.

Hãy thử nghĩ đến câu chuyện của nước mắm Cát Hải hay một đặc sản nào đó của Hải Phòng chẳng hạn. Trước đây có thể họ phải tự bơi, nhưng với chính sách này, họ có thể được hỗ trợ tiền để thiết kế bao bì cho sang trọng hơn, được hỗ trợ chi phí để mang sản phẩm đi mọi vùng miền của Tổ quốc. Đó là những bước đi cụ thể, biến một đặc sản địa phương thành một thương hiệu quốc gia.

Rõ ràng chính sách đã trải một tấm thảm đỏ với những hỗ trợ tài chính rất cụ thể, nhưng để một sản phẩm OCOP thực sự thành công và đi vào lòng người tiêu dùng, ngoài chất lượng được đảm bảo và tiền bạc đầu tư thì yếu tố nào khác sẽ quyết định sự thành bại cuối cùng? Đó là một câu hỏi để chúng ta cùng suy ngẫm.

Liệu đó có phải là câu chuyện đằng sau sản phẩm OCOP? Là lịch sử, là văn hóa của địa phương được lồng ghép vào từng mớ rau, giọt mắm hay không? Chính sách có thể tạo ra một sản phẩm tốt, nhưng để tạo ra một sản phẩm được yêu mến, có lẽ cần nhiều hơn thế.

Hải Phòng