Sự phát triển nhanh của thương mại điện tử và mạng xã hội đang tạo thêm không gian cho hàng giả, hàng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ tiếp cận người tiêu dùng. Khi hoạt động quảng cáo, giao dịch, lưu kho và giao nhận có thể được tổ chức tại những địa điểm khác nhau, việc xử lý một tài khoản bán hàng riêng lẻ không còn đủ để ngăn vi phạm tái diễn.
Từ tài khoản bán hàng đến kho và dòng hàng
Trong quý III/2026, lực lượng Quản lý thị trường trên cả nước đã kiểm tra, xử lý 6.466 vụ liên quan đến hàng giả, hàng giả mạo nhãn hiệu, xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp, hàng không rõ nguồn gốc và vi phạm về ghi nhãn; thu nộp ngân sách gần 64,642 tỷ đồng.
Riêng trên môi trường thương mại điện tử, lực lượng Quản lý thị trường xử lý 215 vụ, thu nộp ngân sách khoảng 3,5 tỷ đồng. Các nhóm hàng được phát hiện vi phạm khá đa dạng, từ mỹ phẩm, thực phẩm, thuốc, sữa đến quần áo, giày dép, túi xách và thiết bị điện tử.
Theo ông Nguyễn Đức Lê, Phó Trưởng phòng Nghiệp vụ Quản lý thị trường, Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công Thương), hoạt động kinh doanh trên môi trường trực tuyến đang đặt ra nhiều thách thức cho công tác kiểm tra, xử lý. Người bán có thể sử dụng nhiều tài khoản, thay đổi thông tin thường xuyên, đồng thời tách biệt nơi quảng cáo, giao dịch, lưu giữ hàng hóa và giao nhận.
Tại Hà Nội, ông Dương Mạnh Hùng, Phó Chi cục trưởng Chi cục Quản lý thị trường Hà Nội, cho biết một số trường hợp được phát hiện có cách thức tổ chức hoạt động khá phân tán. Tài khoản sử dụng trên mạng có thể không trùng với thông tin thực tế của người bán, trong khi kho hàng và địa điểm thực hiện livestream được bố trí ở những nơi khác nhau.
Cách thức tiếp cận khách hàng cũng ngày càng chú trọng yếu tố giá. Những thông tin quảng cáo như “hàng xách tay”, “xả kho”, “hàng xuất dư” có thể được sử dụng để tạo tâm lý về một sản phẩm có nguồn gốc đặc biệt hoặc có mức giá thấp hơn đáng kể so với hàng chính hãng. Với những sản phẩm có thương hiệu, việc xác định tính xác thực của hàng hóa trong nhiều trường hợp cần đến thông tin từ chủ thể quyền và các phương thức kiểm tra chuyên môn.
Lực lượng chức năng kiểm tra kho hàng, làm rõ nguồn gốc và quá trình lưu thông của hàng hóa có dấu hiệu vi phạm.
Một trong những khó khăn của công tác chống hàng giả trên môi trường số là tốc độ thay đổi của các kênh kinh doanh. Khi một tài khoản bị phát hiện có dấu hiệu vi phạm và ngừng hoạt động, hoạt động bán hàng có thể được chuyển sang tài khoản khác. Nếu quá trình kiểm tra chỉ dừng ở gian hàng trực tuyến mà chưa làm rõ nguồn hàng, nơi lưu giữ và tuyến vận chuyển, nguy cơ hàng hóa tiếp tục được đưa ra thị trường vẫn còn.
Theo Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Hoàng Long, chứng cứ điện tử có đặc điểm dễ bị xóa hoặc thay đổi; trong khi đó, kho hàng phục vụ hoạt động kinh doanh trực tuyến có thể phân tán ở nhiều địa bàn. Cùng với đó, quy trình nghiệp vụ và trang thiết bị phục vụ kiểm tra trên môi trường số vẫn cần tiếp tục được chuẩn hóa.
Ở góc độ nghiệp vụ, ông Nguyễn Đức Lê cho rằng việc xác minh quyền sở hữu, đánh giá dấu hiệu vi phạm và thu thập chứng cứ có thể mất nhiều thời gian do dữ liệu phục vụ quản lý hiện còn nằm ở nhiều nguồn khác nhau. Những vụ việc có yếu tố liên tỉnh hoặc liên quan đến hoạt động xuyên biên giới càng đặt ra yêu cầu cao hơn về phối hợp và chia sẻ thông tin.
Thực tế này cho thấy kiểm soát hàng giả trên môi trường số không chỉ là câu chuyện của một tài khoản hay một phiên livestream. Cơ quan chức năng cần có khả năng kết nối thông tin từ gian hàng, người bán, kho chứa, đơn vị vận chuyển đến nguồn cung để xác định đầy đủ hơn chuỗi lưu thông của hàng hóa.
Việc phối hợp giữa Quản lý thị trường, Công an, Hải quan, Biên phòng, cơ quan thuế, các cơ quan chuyên ngành, chính quyền địa phương, doanh nghiệp và chủ thể quyền vì thế có vai trò quan trọng. Mỗi nguồn dữ liệu có thể cung cấp một phần thông tin để phục vụ quá trình xác minh, thay vì xử lý riêng lẻ từng dấu hiệu phát sinh trên mạng.
Theo số liệu từ Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước, trong quý III/2026, đơn vị này tiếp nhận 797 cuộc gọi qua đường dây nóng 1900 888 655 và 227 tin phản ánh qua thư điện tử, bên cạnh các nguồn tin từ đường dây nóng của Ban Chỉ đạo 389 Quốc gia. Nội dung phản ánh chủ yếu liên quan đến hàng giả, hàng lậu, hàng kém chất lượng, hàng không rõ nguồn gốc, hàng không có hóa đơn, chứng từ và các vi phạm về niêm yết giá.
Những nguồn tin này có thể trở thành đầu vào quan trọng cho hoạt động kiểm tra nếu được kết nối với hệ thống dữ liệu và quy trình xác minh thống nhất. Điều này đặc biệt cần thiết trong bối cảnh người tiêu dùng không phải lúc nào cũng có khả năng tự phân biệt sản phẩm thật và sản phẩm có dấu hiệu giả mạo.
Dữ liệu và công nghệ trở thành công cụ mới
Trước sự dịch chuyển của hoạt động kinh doanh hàng hóa lên môi trường số, ứng dụng công nghệ đang được Bộ Công Thương xác định là một hướng quan trọng trong quản lý thương mại điện tử giai đoạn 2026-2030.
Theo Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Long, Bộ Công Thương đang đặt vấn đề nghiên cứu, thí điểm các hệ thống phần mềm có khả năng sử dụng AI và dữ liệu lớn để quét, phân tích thông tin trên môi trường trực tuyến, qua đó hỗ trợ nhận diện sớm các địa điểm kinh doanh có dấu hiệu bất thường và cung cấp cảnh báo cho lực lượng thực thi.
Cùng với việc giám sát, việc xây dựng dữ liệu nhận diện sản phẩm và tăng khả năng truy xuất nguồn gốc cũng được chú trọng. Khi thông tin về sản phẩm, doanh nghiệp, nguồn gốc và quá trình lưu thông được kết nối tốt hơn, cơ quan chức năng có thêm cơ sở để xác minh khi phát hiện dấu hiệu vi phạm.
Tháng 8/2026, Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước đã tham mưu Bộ Công Thương xây dựng Kế hoạch phòng, chống hàng giả, bảo vệ người tiêu dùng trên nền tảng số giai đoạn 2026-2030, trình Thủ tướng Chính phủ tại Tờ trình số 6659/TTr-BCT ngày 19/8/2026. Cùng với đó, các quy định liên quan đến trách nhiệm của nền tảng, người bán và hoạt động livestream tiếp tục được triển khai.
Bộ Công Thương cũng thúc đẩy hoàn thiện cơ chế truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa, trong đó có Thông tư số 31/2026/TT-BCT. Khi khả năng truy xuất được cải thiện, việc xác định nguồn gốc và quá trình lưu thông của hàng hóa sẽ có thêm cơ sở dữ liệu để phục vụ kiểm tra.
Về phía người tiêu dùng, việc lựa chọn kênh mua hàng có thông tin rõ ràng, kiểm tra nguồn gốc, nhãn hàng hóa, thông tin người bán và chứng từ liên quan vẫn là lớp bảo vệ đầu tiên. Tuy nhiên, với những trường hợp có dấu hiệu xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ hoặc hàng giả khó nhận biết bằng mắt thường, việc xác định chính xác cần dựa trên thông tin và xác nhận từ chủ thể quyền hoặc cơ quan có thẩm quyền.
Cuộc chiến chống hàng giả vì vậy đang chuyển dần từ kiểm tra tại điểm bán sang quản lý cả quá trình lưu thông hàng hóa. Khi một tài khoản có thể thay đổi chỉ trong thời gian ngắn, khả năng truy tìm kho hàng, nguồn cung và dòng vận chuyển mới là yếu tố quyết định để xử lý tận gốc và hạn chế vi phạm quay trở lại thị trường dưới một hình thức khác.
Thanh Phong