Trong những năm gần đây, việc phát triển nông sản hữu cơ tại Việt Nam đã nhận được sự hỗ trợ đáng kể từ Nhà nước thông qua các chính sách, chương trình và biện pháp khác nhau. Sự hỗ trợ này không chỉ giúp nâng cao chất lượng sản phẩm nông nghiệp mà còn thúc đẩy bền vững hóa ngành nông nghiệp.
Tổng quan về thị trường nông nghiệp hữu cơ (NNHC)
Tại Việt Nam mô hình NNHC đầu tiên là dự án trồng chè hữu cơ tại xã Tức Tranh, huyện Phú Lương (Thái Nguyên) dưới sự hỗ trợ của Tổ chức CIDCE. Tiếp đó là dự án rau an toàn, lúa, cam, bưởi, chè, cá… tại Hà Nội (1998-2004) do Tổ chức Phát triển Nông nghiệp châu Á của Đan Mạch (ADDA) hỗ trợ.
Đến năm 2004, dự án của Trung ương Hội Nông dân Việt Nam phối hợp cùng tổ chức ADDA đã triển khai thực hiện thành công NNHC cho nhiều nhóm nông dân tại Lào Cai, Tuyên Quang, Hòa Bình… Các sản phẩm hữu cơ được dự án hỗ trợ bao gồm: rau hữu cơ ở Lương Sơn - Hòa Bình, Thanh Xuân - Sóc Sơn, Hà Nội; chè shan tuyết tại Bắc Hà, Lào Cai; cam Hàm Yên, Tuyên Quang...
Tính đến năm 2017, Việt Nam đã có 33/63 tỉnh thành đã triển khai sản xuất NNHC với nhiều mô hình có hiệu quả, như: trang trại rau củ Organik Đà Lạt, nhà máy chế biến dầu dừa Phú Hưng ở Bến Tre, nhà máy chè Cao Bồ ở Vị Xuyên - Hà Giang, nông trại Viễn Phú sản xuất gạo Hoa sữa và sản phẩm handmade ở Cà Mau,…
Thu hoạch lúa Hoa Sữa tại nông trại Viễn Phú Green Farm
Tính đến nay, Việt Nam đã có 59/63 tỉnh, thành phố trên cả nước triển khai NNHC và ngày càng lan tỏa mạnh mẽ.
Là chuyên gia đã nghiên cứu NNHC nhiều năm, PGS.TS Trần Thị Thanh Bình - Giảng viên trường Đại học Lâm nghiệp (Hà Nội) khẳng định, nông sản hữu cơ sẽ tiếp tục được phát triển vì đang mang lại lợi ích rất lớn cho cộng đồng và nền nông nghiệp.
PGS.TS Bình nhận định: “Nông nghiệp hữu cơ là hệ thống sản xuất bảo vệ tài nguyên đất, hệ sinh thái và sức khỏe con người, dựa vào các chu trình sinh thái, đa dạng sinh học thích ứng với điều kiện tự nhiên, không sử dụng các yếu tố gây tác động tiêu cực đến môi trường sinh thái. Nông nghiệp hữu cơ là sự kết hợp kỹ thuật truyền thống và tiến bộ khoa học để làm lợi cho môi trường chung, tạo mối quan hệ công bằng và cuộc sống cân bằng cho mọi đối tượng trong hệ sinh thái”.
Thị trường nông sản hữu cơ sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ khi nhu cầu tiêu dùng thực phẩm hữu cơ đang có xu hướng tăng cao. Tuy nhiên, PGS.TS Bình cho rằng phát triển nông nghiệp hữu cơ tại Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn về nhận thức. Chi phí sản xuất, vật tư đầu vào cho sản xuất nông nghiệp hữu cơ cao, nguồn nhân lực và ứng dụng công nghệ hạn chế.
Ngoài ra, Việt Nam còn đối mặt với hai thách thức lớn là an toàn vệ sinh thực phẩm và biến đổi khí hậu trong quá trình xây dựng thương hiệu và phát triển nông nghiệp hữu cơ bền vững.
Từ thực tế đó, Nhà nước đã và đang có nhiều chính sách, chương trình hỗ trợ Hợp tác xã (HTX), người nông dân trong phát triển nông nghiệp hữu cơ.
Chính sách hỗ trợ của Nhà nước phát huy hiệu quả
Một trong những biện pháp quan trọng của Nhà nước là việc thúc đẩy thông qua việc cung cấp tài nguyên, kiến thức và công nghệ. Chương trình đào tạo và hướng dẫn về phương pháp canh tác hữu cơ đã được triển khai rộng rãi, giúp nông dân nắm vững kiến thức và kỹ thuật cần thiết để áp dụng vào sản xuất. Ngoài ra, việc cung cấp hạt giống, phân bón hữu cơ và thuốc bảo vệ thực vật an toàn đã giúp tối ưu hóa hiệu suất cây trồng, đảm bảo sản phẩm đạt yếu tố hữu cơ theo tiêu chuẩn quốc tế.
Chính sách tín dụng ưu đãi cũng đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ phát triển nông sản hữu cơ. Nông dân có cơ hội tiếp cận vốn vay với lãi suất thấp hơn, giúp họ đầu tư vào việc mua sắm thiết bị, công cụ và nguyên liệu cần thiết cho sản xuất hữu cơ.
Hệ thống cơ sở hạ tầng cũng được Nhà nước đầu tư cải thiện để hỗ trợ nông sản hữu cơ. Việc xây dựng và nâng cấp các cơ sở sản xuất, lưu trữ, vận chuyển và tiêu thụ đã giúp giảm thiểu tổn thất trong quá trình sản xuất và giao thương.
Những hỗ trợ vừa nêu đã được thể hiện rõ ở Nghị định 109/2018/NĐ-CP về nông nghiệp hữu cơ, trong đó quy định cụ thể chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp hữu cơ. Nghị định có hiệu lực thi hành từ 15/10/2018.
Nghị định cũng quy định cụ thể một số chính sách đặc thù hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ, hợp tác xã, trang trại, hộ gia đình, nhóm hộ sản xuất sản phẩm hữu cơ. Theo đó, hỗ trợ 100% kinh phí xác định các vùng, khu vực đủ điều kiện sản xuất hữu cơ: Điều tra cơ bản, khảo sát địa hình, phân tích mẫu đất, mẫu nước, mẫu không khí do cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Hỗ trợ một lần 100% chi phí cấp Giấy chứng nhận sản phẩm phù hợp tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) về nông nghiệp hữu cơ do Tổ chức chứng nhận cấp (cấp lần đầu hoặc cấp lại); về hỗ trợ đào tạo, tập huấn sản xuất hữu cơ, định mức hỗ trợ thực hiện theo quy định của Chính phủ về khuyến nông.
Đã có rất nhiều Hợp tác xã được hưởng lợi từ các dự án và Nghị định 109/2018/NĐ-CP, trong đó có Hợp tác xã Dịch vụ Nông nghiệp sạch hữu cơ Thanh Xuân, huyện Sóc Sơn, Hà Nội.
HTX này bắt đầu sản xuất từ năm 2008 thông qua dự án ADDA- dự án sản xuất rau hữu cơ do Đan Mạch tài trợ. Hiện nay, diện tích rau hữu cơ Thanh Xuân được mở rộng lên đến hàng chục ha với 25 nhóm sản xuất.
Bà con HTX Dịch vụ Nông nghiệp sạch hữu cơ Thanh Xuân trồng rau hữu cơ
Chặng đường chuyển đổi từ canh tác hóa học sang canh tác tự nhiên của các thành viên HTX Dịch vụ Nông nghiệp sạch hữu cơ Thanh Xuân rất gian nan, đòi hỏi sự bền gan không thối chí từ việc chăm sóc cây, bắt sâu, tỉa lá đến việc tiếp cận thị trường.
Trong đó, khó khăn ban đầu lớn nhất là tìm nơi canh tác đáp ứng tiêu chuẩn hữu cơ, đào tạo kỹ thuật canh tác, chi phí vận hành trong canh tác,… Theo bà Hoàng Thị Hậu, Giám đốc Hợp tác xã Dịch vụ Nông nghiệp sạch hữu cơ Thanh Xuân gian nan là vậy nhưng bà và nông dân ở đây không bỏ buộc là vì có sự động viên, đồng hành của Nhà nước.
“Ban đầu chúng tôi được dự án ADDA hỗ trợ. Sau đó, Nghị định 109/2018/NĐ-CP đã tiếp thêm sức mạnh, sự quyết tâm để chúng tôi phát triển rau hữu cơ. HTX được hỗ trợ về chi phí canh tác, được tham gia các lớp tập huấn. Đặc biệt, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hà Nội và các ban, ngành cũng tổ chức các buổi hội thảo để những người trồng rau sạch trau dồi kinh nghiệm. Đặc biệt, Hà Nội nói riêng và cả nước nói chung đang phát triển chuỗi cung ứng thực phẩm an toàn” - bà Hậu chia sẻ.
Trước đó, Thương trường đã thông tin trong bài viết “Nông sản sạch vẫn loay hoay tìm đầu ra tiêu thụ”. Năm 2022, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 43 tỉnh, thành trên cả nước đã tham gia chương trình phối hợp cung ứng nông sản cho Thủ đô.
Các đơn vị đã chủ động, tích cực duy trì và hỗ trợ phát triển 946 chuỗi cung ứng thực phẩm an toàn cho Hà Nội, chiếm 57% số chuỗi toàn quốc, tăng 20% số chuỗi so với năm 2021. Đáng nói, nông sản hữu cơ vẫn đang chiếm số ít trong chuỗi cung ứng thực phẩm an toàn.
Vì vậy, bà Hậu hi vọng rằng, trong thời gian tới thực phẩm hữu cơ sẽ được “ưu ái” trong chuỗi cung ứng thực phẩm an toàn. Nghị định 109/2018/NĐ-CP hỗ trợ về khâu sản xuất thì sự “ưu ái” đó cũng như là chính sách hỗ trợ đầu ra cho sản phẩm hữu cơ. Thực phẩm nằm trong chuỗi cung ứng đã được kiểm định chất lượng nghiêm ngặt nên sẽ có uy tín với người tiêu dùng.
Có thể thấy rằng, sự hỗ trợ của Nhà nước trong phát triển nông sản hữu cơ tại Việt Nam đã mang lại những thành tựu đáng kể. Từ việc cung cấp tài nguyên, kiến thức và công nghệ, đến việc áp dụng chính sách tín dụng ưu đãi và nâng cao hạ tầng cơ sở, cùng với việc xây dựng các chuỗi cung ứng và thị trường, tất cả đều hỗ trợ ngành nông nghiệp hữu cơ phát triển bền vững, mang lại lợi ích cho nông dân, môi trường và xã hội nói chung./.
Dương Định