13:26 19/10/2026

Kiểm soát tín dụng khách hàng lớn, ngăn rủi ro dồn vào một hệ sinh thái

Nhiều doanh nghiệp đứng tên vay vốn riêng nhưng khả năng trả nợ cùng phụ thuộc vào một dự án, một chủ đầu tư hoặc một nguồn tiền. Khi tín dụng tiếp tục mở rộng, yêu cầu kiểm soát khách hàng lớn cần đi sâu vào mối liên hệ thực chất, tránh để dư nợ phân tán trên hồ sơ nhưng rủi ro lại tập trung.

Nhiều hồ sơ vay, một nguồn tiền trả nợ

Tại Công văn số 9608/NHNN-CSTT ngày 18/10/2026, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) yêu cầu tăng cường quản trị rủi ro đối với khách hàng, nhóm khách hàng có dư nợ lớn. Các dấu hiệu cần xem xét gồm chung người quản lý, người đại diện, chủ sở hữu; chung tài sản bảo đảm, nguồn trả nợ hoặc vốn vay cùng tập trung vào một dự án. NHNN đồng thời yêu cầu ngăn ngừa việc lập hồ sơ không đúng bản chất giao dịch để né điều kiện và giới hạn cấp tín dụng.

Yêu cầu này tiếp tục được nhấn mạnh tại cuộc họp giữa NHNN với lãnh đạo các ngân hàng thương mại sáng 19/10: kiểm soát khách hàng, nhóm khách hàng có dư nợ lớn; tăng cường cho vay hợp vốn đối với dự án lớn và không hạ chuẩn để tăng quy mô tín dụng. Theo số liệu được công bố tại cuộc họp, đến ngày 14/10, dư nợ tín dụng nền kinh tế đạt hơn 20,72 triệu tỷ đồng, tăng 11,44% so với cuối năm 2025 và tăng 16,73% so với cùng kỳ.

Trong bối cảnh đó, vấn đề cần nhìn sâu hơn là số lượng khách hàng có thực sự phản ánh mức độ phân tán rủi ro của ngân hàng.

Một tình huống giả định cho thấy rõ điều này: ngân hàng cấp vốn cho chủ đầu tư xây dựng dự án, cho nhà thầu vay thi công và cho doanh nghiệp cung ứng vật liệu vay bổ sung vốn lưu động. Ba khách hàng có thể hoạt động ở ba lĩnh vực, ký ba hợp đồng tín dụng khác nhau, nhưng tiền thanh toán cho nhà thầu và nhà cung cấp lại phụ thuộc đáng kể vào việc chủ đầu tư bán được sản phẩm.

Nếu dự án chậm triển khai hoặc không tạo được doanh thu như dự kiến, khó khăn có thể lan từ chủ đầu tư sang các doanh nghiệp còn lại. Khi ấy, ngân hàng phải đối diện với nhiều khoản vay suy giảm chất lượng cùng lúc, dù từng hồ sơ trước đó được thẩm định riêng.

Trong nghiên cứu về cảnh báo sớm rủi ro cấp tín dụng cho khách hàng và người có liên quan, tác giả Đỗ Thị Thu Hà, Học viện Ngân hàng, đã phân tích các nhóm khách hàng liên hệ qua chuỗi đầu vào, đầu ra, tài sản bảo đảm và nguồn trả nợ. Nghiên cứu chỉ ra nguy cơ khó khăn ở một khách hàng lan sang những khách hàng khác trong nhóm, dẫn đến mất khả năng trả nợ dây chuyền. Phân tích được công bố từ năm 2019 cho thấy việc nhận diện quan hệ kinh tế giữa các bên là một yêu cầu quản trị có tính nền tảng.

Kiểm soát tín dụng khách hàng lớn ngăn rủi ro dồn vào một hệ sinh thái
Nhiều doanh nghiệp đứng tên vay vốn riêng nhưng khả năng trả nợ cùng phụ thuộc vào một dự án, một chủ đầu tư hoặc một nguồn tiền.

Từ góc độ thẩm định, điều cần xác định là doanh nghiệp tạo tiền bằng hoạt động nào, ai thanh toán và nguồn tiền đó có độc lập với những khách hàng khác đang vay tại ngân hàng hay không. Báo cáo doanh thu tăng chưa đủ để khẳng định khả năng trả nợ nếu phần lớn doanh thu chưa chuyển thành tiền hoặc khoản phải thu tập trung ở một đối tác đang gặp khó khăn.

Tương tự, tiền chuyển giữa các công ty trong cùng nhóm có thể đáp ứng nhu cầu thanh khoản trước mắt nhưng chưa chứng minh được cả nhóm có thêm nguồn lực trả nợ. Nếu dòng tiền chỉ luân chuyển nội bộ, ngân hàng cần làm rõ nguồn thu từ bên ngoài và nghĩa vụ phải thanh toán cho các chủ nợ khác.

Một lớp rủi ro khác nằm ở quyền chi phối phía sau doanh nghiệp. Chuyên gia tài chính, ngân hàng Nguyễn Trí Hiếu cảnh báo cấu trúc sở hữu phức tạp và việc sử dụng người đứng tên hộ có thể khiến hồ sơ không phản ánh đầy đủ quan hệ lợi ích. Theo ông, quản lý cần xác định chủ sở hữu thực sự, người có quyền chi phối và bên hưởng lợi từ khoản tín dụng.

Tuy nhiên, cùng tham gia một dự án hoặc có giao dịch với nhau chưa phải bằng chứng về hành vi vi phạm. Những liên hệ này là cơ sở để ngân hàng thẩm định sâu hơn. Việc xác định người có liên quan để áp dụng giới hạn cấp tín dụng phải căn cứ quy định pháp luật và thông tin được xác minh.

Phân tán rủi ro phải đi cùng kiểm soát dòng tiền

Luật Các tổ chức tín dụng quy định trong năm 2026, giới hạn cấp tín dụng thông thường của ngân hàng thương mại đối với một khách hàng là 13% vốn tự có; đối với một khách hàng và người có liên quan là 21%. Từ đầu năm 2027, hai mức này giảm còn 12% và 19%. Tổng mức dư nợ để tính giới hạn còn bao gồm khoản mua, nắm giữ, đầu tư vào trái phiếu do khách hàng và người có liên quan phát hành, theo phạm vi luật định.

Lộ trình này đặt ra yêu cầu ngân hàng chủ động cân đối danh mục từ sớm. Với các khoản tài trợ lớn, việc đánh giá cần bao quát cả nghĩa vụ hiện hữu và nhu cầu vốn tiếp theo của dự án, tránh tình trạng giải ngân được giai đoạn đầu nhưng thiếu phương án tài trợ khả thi cho giai đoạn sau.

Dù vậy, tuân thủ giới hạn pháp lý mới giải quyết một phần bài toán an toàn. Một danh mục có thể chưa vượt trần đối với từng khách hàng nhưng vẫn chịu ảnh hưởng mạnh từ cùng một biến động thị trường. Chẳng hạn, nhiều doanh nghiệp không có quan hệ sở hữu nhưng cùng phụ thuộc vào sức tiêu thụ của một phân khúc bất động sản hoặc một thị trường xuất khẩu.

Bởi vậy, bên cạnh việc cộng gộp dư nợ theo quan hệ pháp lý, ngân hàng cần đánh giá những nguồn rủi ro chung. Nếu đầu ra giảm, tiến độ thanh toán kéo dài hoặc giá trị tài sản suy giảm, bao nhiêu khoản vay có thể đồng thời chịu tác động và ngân hàng có đủ khả năng hấp thụ tổn thất hay không.

Ở khâu tài sản bảo đảm, NHNN cũng yêu cầu định giá sát thị trường, cập nhật giá trị và xác định tỷ lệ cấp tín dụng phù hợp với rủi ro, khả năng thanh khoản của tài sản; đồng thời phản ánh trung thực chất lượng tín dụng, không che giấu nợ xấu hoặc chậm ghi nhận rủi ro.

Điều này đặc biệt có ý nghĩa khi nguồn trả nợ và tài sản bảo đảm cùng chịu tác động từ một thị trường. Nếu doanh nghiệp khó trả nợ vì dự án bán chậm, trong khi tài sản thế chấp cũng là bất động sản tại khu vực đó, ngân hàng có thể gặp đồng thời hai trở ngại: dòng tiền thu nợ suy yếu và tài sản khó chuyển thành tiền.

Do đó, giá trị định giá cao không thể thay thế cho việc chứng minh nguồn trả nợ khả thi. Với tài sản dùng bảo đảm cho nhiều nghĩa vụ, cần làm rõ phạm vi bảo đảm, thứ tự ưu tiên thanh toán và phần giá trị thực tế còn có thể thu hồi.

Đối với dự án lớn, cho vay hợp vốn là một phương án phân bổ nghĩa vụ tài trợ giữa các ngân hàng. Nhưng hiệu quả phân tán rủi ro còn phụ thuộc chất lượng thẩm định của từng bên và cơ chế chia sẻ thông tin. Sự tham gia của nhiều ngân hàng không tự làm cho một dự án thiếu dòng tiền trở nên an toàn hơn.

Kiểm soát tín dụng khách hàng lớn ngăn rủi ro dồn vào một hệ sinh thái
Khi tín dụng tiếp tục mở rộng, yêu cầu kiểm soát khách hàng lớn cần đi sâu vào mối liên hệ thực chất, tránh để dư nợ phân tán trên hồ sơ nhưng rủi ro lại tập trung.

Ngân hàng tham gia tài trợ cần có đánh giá riêng về tính khả thi, tiến độ, vốn chủ sở hữu thực góp và nguồn thanh toán. Trong quá trình giải ngân, thông tin về việc chậm tiến độ, thay đổi nhà thầu hoặc phát sinh nghĩa vụ tài chính lớn cần được cập nhật kịp thời để các bên cùng điều chỉnh phương án quản lý.

Cùng với đó, kiểm tra sau cho vay phải theo được đường đi của tiền. Khoản giải ngân có đến đúng bên thụ hưởng, phục vụ đúng công việc và tạo ra khối lượng thực tế hay không là những câu hỏi cần được trả lời bằng chứng từ, dữ liệu giao dịch và kiểm tra thực địa phù hợp.

Về thực thi, luật sư Trương Thanh Đức, Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam, nhận định các quy định về giới hạn tín dụng, sở hữu và người có liên quan đã tương đối đầy đủ; vấn đề nằm ở khả năng phát hiện, xác minh và xử lý. Ông nhấn mạnh chế tài phải tương xứng để lợi ích từ vi phạm không lớn hơn chi phí mà bên vi phạm phải chịu.

Kiểm soát tín dụng tập trung vì thế cần bắt đầu từ từng quyết định cấp vốn, với trách nhiệm rõ ràng của bộ phận kinh doanh, thẩm định và phê duyệt. Các dự án khả thi vẫn cần nguồn lực để triển khai; doanh nghiệp lớn vẫn có vai trò dẫn dắt chuỗi sản xuất. Chất lượng tài trợ phụ thuộc vào khả năng nhận diện đúng rủi ro và bố trí nguồn vốn phù hợp.

Khi nhiều khoản vay cùng trông vào một nguồn tiền, khó khăn của một dự án có thể trở thành sức ép lên cả danh mục. Ngăn rủi ro dồn vào một hệ sinh thái đòi hỏi ngân hàng nhìn xuyên qua từng hồ sơ, xác định được dòng tiền thực và giới hạn tổn thất có thể chịu đựng trước khi quyết định giải ngân.

Thanh Cao